12:41 ICT Thứ hai, 10/05/2021

Danh mục bài viết

Gủi bài viết

Các bài viết

Trang nhất » Bài viết » Thông tin việc họ

CÔNG LAO QUỐC LÃO NHỮ ĐÌNH TOẢN

Thứ năm - 14/01/2021 22:26
Ban biên tập Cổng thông tin điện tử Họ Nhữ Việt Nam đăng nguyên văn bài của ông Nhữ Đình Phượng - trình bày tại Lễ Khánh thành Nhà thờ Quốc Lão Công:


BÀI VIẾT CHUYỆN
VỀ CÔNG LAO CỦA CỤ QUỐC LÃO NHỮ ĐÌNH TOẢN

Nhân dịp khánh thành nhà thờ phái 3, chi 2 họ Nhữ Hoạch Trạch


Nhà thờ Quốc Lão Công
Bài viết đề cập 3 vấn đề:
1. Thân thế và sự nghiệp của ông.
2. Những đóng góp của ông với đất nước, quê hương.
3. Tổ chức hội thảo khoa học cấp nhà nước về ông.
I. THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP CỦA TIẾN SỸ THƯỢNG THƯ NHỮ CÔNG TOẢN.
- Ông sinh ngày 6/4/1703 (năm Quý Mùi)
- Giỗ ngày 16/2/1773 (năm Quý Tỵ), thọ 71 tuổi.
- Nguyên quán: Xã Hoạch Trạch, huyện Đường An, Phủ Thượng Hồng, Đạo Xứ Đông. Nay thuộc thôn Hoạch Trạch, xã Thái Học, Bình Giang, Hải Dương.
- Khi còn nhỏ tên húy là Ban, tên chữ là Thượng Chân tên đi thi là Nhữ Đình Toản. Về sau chúa Trịnh yêu quý cho cải tên là Nhữ Công Toản.
- Ông thuộc con nhà dòng dõi khoa bảng lớn ở xứ Đông.
+ Là con trai thứ 3 của tiến sỹ thượng thư bộ Hình Nhữ Đình Hiền.
+ Là cháu nội của tiến sỹ thượng thư bộ công Nhữ Tiến Dụng.
+ Là anh em con chú con bác ruột với Bảng Nhãn, Đông các đại học sỹ, Hiến sát xứ Nhữ Trọng Thai(1) và bà Lưỡng Quốc Quế hộ thượng quận phu nhân, Nhữ Thị Nhuận(2).
+ Là cha đẻ của Hoàng Giáp, Hữu Thị Lang Bộ Lễ, Nhữ Công Trấn và 6 quan Trung khoa khác gồm: Đình Thường – Công Củng – Công Vũ – Công Liêu – Công Bảo – Công Quý. Đều đỗ hương cống, làm quan từ tri Huyện – tri Phủ đến Tả (Hữu) thị Lang (như thứ trưởng ngày nay)(3).
- Ông có 9 bà thê, sinh hạ được 14 người con. (10 nam, 4 nữ).
- Ông là hậu duệ đời thứ 9 của tiến sỹ thượng thư Bộ Hộ Nhữ Văn Lan (đỗ tiến sỹ 1463), sau được phong làm “Thượng đẳng Phúc Thần” làng An Tử Hạ. Nay thuộc xã Kiến Thiết, Tiên Lãng, Hải Phòng.
- Chức vụ trước khi về hưu:
+ Trung Quân Đô Đốc Phủ. + Tả Đô Đốc.
 
Chú thích: (1) Chữ 
  có 2 âm Thai và Đài
                   (2) Bà là Hậu thần làng Mộ Trạch – Tân Hồng – Bình Giang
                   (3) Thời gian này đất nước loạn lạc không thi Đình


+ Thượng Trụ Quốc (tương đương chức Tể tướng chỉ sau Vua Lê chúa Trịnh).
- Khi về hưu được đặc ban:
+ Quốc Lão.
+ Tước Thái Bảo.
* Sinh thời khi còn nhỏ:
- 3 tuổi đã biết đọc sách.
- 6 tuổi ông theo học Trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo là bạn thân và làm quan cùng triều với cha ông.(1)
- 7 tuổi đã biết làm câu đối.
- Từ nhỏ ông đã thích tập võ, bắn cung, chơi nghiên bút, cha ông thường bắt ông đọc sách nhiều hơn.
- Năm 14 tuổi cha mất khi đương chức, cha ông tuy là quan Thượng thư nhưng thanh liêm, chính trực, nhà đông con lên nghèo túng.
- Năm 17 tuổi thi cấp huyện đứng đầu.
- Năm 18 tuổi đang ở nơi học tập trung để chuẩn bị dự kỳ thi “Giám khoa tư văn” cấp khu vực thì bị mắc lỗi, bị kỷ luật cấm thi suốt đời.
* Nguyên nhân như sau:
- Anh rể ông là quan Đông các đại học sỹ: Phùng Cự người Đông Ngạc, Hà Nội đến trường thi làm nhiệm vụ của quan giám khảo. Có đến phòng em vợ chơi, thấy quyển bài tập của ông Toản có đề cập đến tình hình thời sự đương thời . Ông anh lấy bút viết thay, chê chính sách, mỉa mai triều đình câu: “Kim thượng phi Lê thị chi chính tông chi câu”.
- Có nghĩa là: Nhà vua không phải chính tông họ Lê.
- Có lẽ do sơ ý ông Toản không đọc lại quyển bài tập trước khi nộp bài. Các quan đọc được câu này rất bất bình, bắt ông về tra khảo. Trước đêm đó hai anh em ngủ cùng, không ai ngủ được. Anh rể bàn với em cách khai với các quan: “Văn tùy hứng mà đến, thơ tùy tình mà sinh. Đây là nơi trường học, nho sinh sai sót là lẽ thường”. Nghĩa là tự nhận mình làm sai, chứ không phải anh rể tự ý viết hộ. Ông trả lời “ông chỉ nghĩ đến việc nghĩa chứ không nghĩ đến phúc họa”. Cuối cùng triều đình kỷ luật ông, cấm thi suốt đời. Ông rất buồn, về nhà họ hàng, làng xóm khinh rẻ. 8-9 năm học tập bỗng phút chốc tan thành mây khói, ông càng quyết tâm học tập.
- Năm 21 tuổi theo học Quan Tham Chính – Thổ Hoàng Ân Thi.
 
Chú thích: (1) Ông Đăng Đạo, đỗ năm 1683 theo gia phả họ Nguyễn – Từ Sơn – Bắc Ninh. (Sách Tiên Hoài Phả Ký).

- Năm 24 tuổi làm đơn xin ân xá không được chấp thuận, ông phẫn uất bỏ nhà đi tu (vùng Ân Thi). Chùa ông tu bị hư hỏng nặng, kỳ mục, quan lại xã ấy có nhờ ông viết 1 bài phả khuyến, kêu gọi nhân dân thập phương công đức sửa chùa.
- 2 năm sau cậu ông trên đường về kinh đi qua đọc thấy bài văn phả khuyến hay, muốn tìm hiểu ai là người viết. Dân làng cho hay của 1 cậu học trò người làng Hoạch Trạch, ông cậu nhờ người tìm gặp. Hai cậu cháu trò truyện mới biết rõ đầu đuôi, cậu khuyên ông về nhà đi học chuẩn bị cho kỳ thi tới.
- Năm 27 tuổi nhờ có bố vợ làm đơn xin ân xá ông mới được miễn tội, trở về nhà đi học tiếp.
Quan tỉnh, quan huyện biết ông được đi thi trở lại, bèn tính tiền phí phạt. Nhà có gì bán hết, ông anh rể mang đến cho 3 hốt bạc ông cũng không nhận. Kỳ thi khảo hạch cấp tỉnh lần ấy ông đỗ đầu, tiếng tăm lừng lẫy các thôn ấp.
- Năm 29 tuổi ông dự kỳ thi Hương đỗ thứ 2, được bổ nhiệm chức quan “Cẩn sự tá lang” (một chức quan Võ).
- Năm 31 tuổi thi Hội đứng thứ 3 (năm ấy nhà nước không tổ chức thi Đình).
- Năm 34 tuổi thi hội đỗ đầu, gọi là Hội Nguyên (vào năm Bính Thìn 1736). Quyển viết dự thi hội năm đó, nay vẫn đang được lưu giữ tại viện Hán Nôm Hà Nội. (Chắc được dùng làm tài liệu giảng dạy cho các nho sinh).
Năm đó dự thi Đình ông đỗ Tam giáp đồng tiến sỹ, thi xong phải nghỉ việc về nhà chịu tang mẹ đẻ.
- Năm 36 tuổi (1738) hết tang ra nhậm chức quan “Tiến công thứ lang – kiêm cấp sự trung Bộ Lại (hàm lục phẩm, Triều đình Lê Trịnh bấy giờ có 9 phẩm cấp hàm của các quan).
- Năm 37 tuổi được cử đi đốc đồng xứ Lạng Sơn, tăng cường cho các quan địa phương chống phản loại.
- Năm 38 tuổi đi dẹp loạn ở xứ Đông, Phủ Thượng Hồng và Kinh Môn. Bắt được tướng giặc, phía Đông kinh thành đã bình yên. Được phong chức “Cẩn sự tá lang – Hàm lâm viện hiệu thảo”.
- Cuối năm đó cử đi đánh hiệp đồng với tướng Nguyễn Nghiễm (cha đẻ Nguyễn Du) và Khổn Quận Công (con rể chúa Trịnh).
3 ông vừa chỉ huy đánh giặc, vừa làm thơ, có chung một tập thơ: “Trung quân liên vịnh tập”.
- Năm 39 tuổi được cử đi đánh quân phản loạn Nguyễn Tuyển ở phía Bắc sông Hồng, bắt được nhiều tù, hàng binh. Ông bàn kế cùng tướng Nguyễn Nghiễm đang chỉ huy đánh ở Kim Động, Ân Thi. Ông chỉ huy một mũi thọc sâu, đánh vào vùng sau lưng địch ở Thanh Miện. Khi quân ta đánh mạnh ở Kim Động, giặc chạy quay lại phía sau bao vây quân ông 4 phía. Lính của ông phần nhiều là tân binh chưa qua trận mạc, bỏ chạy hết về phía Kim Động. Ông một mình một giáo, một voi tả xung hữu đột, đánh lại giặc. Đến khi trên người hơn chục vết thương thì bị bắt. Khi ông bị bắt làm tù binh, quân tướng giặc biết ông là bậc tướng tài tập trung nghe ông nói chuyện. Ông phân tích cặn kẽ tình hình chính sự của đất nước, giảng giải điều hay lẽ phải. Đặc biệt ông giảng về giáo lý, thuyết “Nhân quả” của nhà Phật cho mọi người nghe. Sau đó tướng sỹ quân giặc bó gươm, bó giáo, mác lại theo hàng quân triều đình. Khi về lại Kinh thành, ông được Triều đình cho nghỉ chữa trị thương tật. Được phong Ngự Sử Đạo Kinh Bắc, giám sát Ngự Sử Đạo Nam Sơn.
+ 41 tuổi được phong Hoằng Tín Đại Phu, Nhập nội thị.
+ 42 tuổi cử đi làm Tán lý quân vụ tỉnh Nghệ An.
+ 43 tuổi được thăng hàng Đại phu, Nhập nội thị, Công bộ Hữu Thị Lang (như Thứ trưởng ngày nay).
- Được đặc ban thăng chức tước cho ông bà và cha mẹ.
+ 45 tuổi ông tu sửa gia phả lần cuối.
- Được cử đi đánh giặc phía Đông nam Kinh Thành.
Giữ chức: “Quận công đạo Đông Nam, sau được thăng Đặc Tiến Kim Tử, Vinh Lộc Đại Phu - Bồi Tụng - Công Bộ Tả Thị Lang; Hình Bộ Hữu Thị Lang. (Cùng một lúc giữ 2 chức Thứ trưởng của 2 bộ).
Tước: Hầu
- 48 tuổi chuyển sang chức Binh Bộ Tả Thị Lang.
- Khi Minh Vương (chúa Trịnh Doanh) Thân chinh đi đánh phía Tây, ông được giao soạn thảo văn tế Thái miếu, ở lại trấn giữ Kinh Thành và phủ Chúa.
- 52 tuổi được cử làm chủ khảo kỳ thi Hội.
Tháng 11 năm đó cùng vua đi dự kỳ thi tuyển võ nghệ.
Tháng 12 được cử làm tổng chỉ huy diễn tập hợp đồng binh chủng, thủy - bộ lớn ở bãi sông Hồng. Diễn tập thành công được vua khen: “Tướng sinh từ tướng, không hổ thẹn con nhà nòi”.
- 53 tuổi được thăng Ngự Sử Đài, Đô Ngự Sử, kiêm Tế Tửu Quốc Tử Giám 2 khóa liền.
- 56 tuổi thăng chức Thượng Thư Bộ Binh; Được Vua truy phong chức tước cho cụ, ông, bà, cha, mẹ.
- 59 tuổi được cử đi cùng quan Nguyễn Nghiễm là Công Bộ Thượng Thư. Đi khảo sát việc thực hiện chính sách của Nhà nước ở các địa phương.
Cuối năm đó được Vua ủy quyền tiếp xứ thần nhà Thanh sang phong sắc cho Vua ta. Có bài thơ phú đối đáp rất hay khiến sứ thần nhà Thanh phải trọng nể.
- 62 tuổi được bổ nhiệm lại chức Thượng Thư Bộ Binh, kiêm Hình Bộ Sự - Trung Quận Công.
- 65 tuổi chúa Trịnh Doanh qua đời, quân phản loạn nổi lên chống lại, khắp nơi đất nước không được yên ổn.
Chúa Trịnh Sâm mới lên ngôi, cử các tướng đi đánh đều thua trận. Chúa Trịnh Sâm trao cho ông chỉ huy toàn quyền thống lĩnh quân đội đi dẹp loạn. Trước khi xuất quân, ông thảo chiếu “Bình tây quân lệnh” có 43 điều. Xiết chặt kỷ luật quân đội, thưởng phạt tướng sỹ nghiêm minh. Sau đó cắt cử các tướng chỉ huy 5 hướng thủy - bộ cùng tiến. Tướng giặc là Nguyễn Cừ nghe tin ông xuất quân, bỏ chạy thẳng về Hương Sơn. Tướng sỹ quân phản loạn phần đông là con em nông dân, nghe tin quân tướng ông luôn hành động vì chính nghĩa, bênh vực cho quyền lợi của người dân nghèo. Đã tự ra hàng, hoặc tự giải tán không đối đầu với lính triều đình. Các địa phương được bình yên trở lại, ông thu quân về Kinh, tướng sỹ còn nguyên vẹn.
- 66 tuổi được thăng Trung Quân Đô Đốc Phủ - Tả Đô Đốc - Thượng Trụ Quốc.
- 69 tuổi do tuổi cao, dâng sớ xin Vua cho nghỉ hưu mấy lần mới được chuẩn y.
Khi ông về hưu được Vua - Chúa tổ chức yến tiệc chiêu đãi trịnh trọng. Các quan, bạn bè tập trung ở cổng thành đưa tiễn, tặng quà, câu đối, bức trướng. Triều đình cho quân lính rước kiệu tháp tùng đưa ông về quê. Đây là một đặc ân của Triều đình đối với một quan đại thần về nghỉ hưu, chưa từng có tiền lệ.
Nhà vua có 1 bài thơ 8 câu chữ Hán nôm, nhà Chúa có 1 đôi câu đối thêu trên lá cờ màu xanh cho rước theo đoàn về quê.
 Câu đối và bài thơ như sau:
- Câu đối:
Văn tiến sỹ, võ quận công, triều trung hiển hoạn
Quốc trung thần, gia hiếu tử, thiên hạ hoàn danh
Được dịch là:
Vế 1:  Văn học vị tiến sỹ, Võ ở bậc quận công, Làm quan lớn trong triều đình.
Vế 2:  Đối với nước là bậc trung thần, Đối với gia đình là người con hiếu thảo, Thiên hạ trao cái danh hiệu này cho ngài
(Ý Chúa nói không phải Chúa tặng danh hiệu này mà dân tặng).
- Bài thơ vua Lê tặng (tôi lược dịch như sau):
Bấy lần gần gũi chốn vua thần
Quê nhà yên ấm cuối tuổi xuân
Hoa Quốc mấy tài thêu trên gấm
Đôi triều (1) êm ả thế đồng cân
Gian nan tỏ rõ người tri thức
Việc nước quên mình chẳng tiếc thân
Yêu mến người xưa ta vẫn nghĩ
Bình yên việc nước nhớ thần quân.
Ông về nghỉ chưa đầy năm, nhà nước nhiều việc, triều đình lại mời ông ra làm việc khoảng 1 năm nữa mới cho nghỉ hẳn.

Ông Nhữ Đình Phượng tại Lễ Khánh thành Nhà thờ Quốc Lão Công
 
II. CÁC TÁC PHẨM CỦA ÔNG ĐỂ LẠI:
1. Hoạch Trạch Nhữ Tộc phả viết năm 1745.
2. Bách ty chức trưởng.
3. Chế sắc, biểu khải văn tập cùng nhiều thơ, văn, ký,…
4. Các văn bia: Bia đá số 72, 74. Sửa bản thảo văn bia số 79 đang được lưu tại văn miếu Quốc Tử Giám Hà Nội.
Còn 8 văn bia ở các địa phương khác…
* Các tác phẩm của ông để lại có nội dung thiết thực trên nhiều lĩnh vực về lịch sử - văn hóa – xã hội, quản lý nhà nước, cải cách hành chính, giáo dục, cải cách chế độ thi cử, bổ nhiệm quan chức. Phân công, phân quyền giữa Trung ương và địa phương; Tiết kiệm chi tiêu ngân sách nhà nước….Một số văn bản của ông còn được các triều đại sau như nhà Tây Sơn, nhà Nguyễn áp dụng điều hành đất nước.
III. ĐỐI VỚI QUÊ HƯƠNG, DÒNG HỌ:
1. Khi còn đương chức:
Vào các ngày lễ Hội, ngày Tết hàng năm đều có lễ vật gửi về cúng tế nhà chùa, nghè, nhà thờ họ…như: mâm xôi, sỏ lợn, hoa quả, hồng, cam, dưa hấu….mùa nào thức ấy.
2. Khi về hưu:
- Mang phần ruộng lộc điền vua ban thưởng, ông cho các thôn xã trong vùng để làm ruộng công điền, thu hoa lợi dùng vào việc cúng tế hàng năm, để dân không phải đóng góp.
- Bỏ tiền ra tu sửa lại nhà văn chỉ hàng Huyện nơi ghi danh các bậc nho sỹ trong huyện đỗ từ Hương cống trở lên. (Nay bia này vẫn còn lưu giữ tại thôn Hoạch Trạch).
 
Chú thích: (1) Nguyên bản là,” lập triều”: Ý nói cụ ở giữa cung vua và phủ chúa mà không mất lòng ai, được cả cung vua, phủ chúa kính trọng.
 
- Cắt đất, dồn dân lập ấp, xây dựng đình, chùa, lập lên thôn Dinh Như và một phần thôn Quàn, xã Bình Xuyên, huyện Bình Giang.
- Soạn thảo hương ước làng Hoạch Trạch – xã Thái Học.(1)
Dân làng thực hiện hương ước, đoàn kết thôn xóm, giữ gìn an ninh trật tự ở địa phương có tục lệ con cháu trong làng đi lễ nhà thờ họ, lễ đình, chùa,  nghè vào 3 ngày tết đầu năm. Trở thành phong tục văn hóa đẹp của làng được duy trì.
- Mở rộng nghề sản xuất lược tre (trước đây chỉ có con cháu trong họ Nhữ  chủ yếu sản xuất và buôn bán ở phố hàng lược Hà Nội). Sau này ông chuyển về truyền dạy cho cả làng và mở chợ buôn bán lược tại địa phương.(2)
IV. NHÀ NƯỚC TỔ CHỨC HỘI THẢO KHOA HỌC VỀ ÔNG:
Ngày 20/12/2013 tại Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội, viện Hán Nôm, Hội sử học Việt Nam, Trung tâm văn hóa khoa học Quốc Tử Giám Hà Nội phối hợp với một số cơ quan, dòng họ Nhữ Hoạch Trạch, đã tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề: “ Tế Tửu Quốc Tử Giám Nhữ Đình Toản con người và sự nghiệp”. Nhằm vinh danh các quan tế tửu (hiệu trưởng) Quốc Tử Giám Hà Nội, có nhiều đóng góp trong quá trình đào tạo nhân tài cho đất nước qua các triều đại phong kiến Việt Nam. Trong hội thảo này có nhà khoa học, học giả đã viết về ông: “Ông là một danh sỹ lớn của đất Bắc Hà, sống cùng thời với các danh nhân, các nhà văn hóa lớn của đất nước lúc bấy giờ như Nguyễn Nghiễm, Vũ Miên, Lê Quý Đôn…Ông đã có nhiều đóng góp cho việc đổi mới giáo dục và thi cử, quản lý triều chính. Đồng thời là tác giả của nhiều văn bia có giá trị, được đánh giá là danh danh thần nổi tiếng thời Lê – Trịnh”…
-… Nhà sử học Lê Huy Chú đã rất đúng khi xếp ông vào danh sách “người phò tá có công lao tài đức” là bậc lương đống của triều đình…
- Đặc biệt có học giả đánh giá về ông đại ý… Tài năng và đức độ, am hiểu trên mọi lĩnh vực mà Nhữ Đình Toản có được là: Ngoài trí thông minh, ham học, kết hợp giữa truyền thống gia đình, của nền văn hiến Xứ Đông với cả cuộc đời tận tụy hòa mình trong đời sống dân sinh. Ông từng nhiều lần đi học, đi thi, dạy học, coi thi, làm thầy tu rồi làm tướng, làm tù binh, thương binh, quản lý Nhà nước, quản lý xã hội trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Ở công việc nào ông cũng hoàn thành tốt bổn phận của bề tôi, không làm mất lòng ai, ai cũng yêu quý….

Chú thích: (1) (Bản hương ước này bị đốt vào khoảng 1976 – 1977) Khi địa phương ta làm cải cách văn hóa.
              (2) Nghề lược tre do cha ông là tiến sỹ Nhữ Đình Hiền đi xứ Trung Quốc mang về truyền cho con cháu, ban đầu chỉ sản xuất ở Hà Nội, cho tiện mua nguyên vật liệu và bán sản phẩm.


  V. CẢM NHẬN, ĐÁNH GIÁ CỦA NGƯỜI VIẾT.
Là con cháu hậu duệ của người, bản Phái ta nói riêng, Dòng Họ Nhữ nói chung. Chúng ta có quyền tự hào về Tổ Tiên, về Quốc Lão Công một bậc quan đại thần anh minh, lỗi lạc, văn võ song toàn, một lòng một dạ phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân.
Trước Từ Đường của người, tôn thứ nội ngoại trong dòng họ ngày nay nguyện: Học tập, noi gương theo di huấn của tổ tiên. Dù đi đâu, ở đâu, làm gì? Cũng luôn luôn chăm chỉ học tập, lao động, khiêm tốn, hòa đồng với mọi người. Trong cuộc sống hàng ngày không ngừng phấn đấu vươn lên; “Tích Đức - Hành Thiện” xa rời việc xấu, việc ác. Để giữ gìn tiếng thơm của tiên tổ mãi mãi sáng ngời ngọc phả.
Mọi người làm được như vậy chính là những nén hương thơm nhất, từ đáy lòng mình dâng cúng tổ tiên. Tổ tiên luôn đồng hành theo con cháu giúp chúng ta những lúc khó khăn, cam go nhất trong cuộc đời. Hạnh phúc biết bao được là hậu duệ của các bậc Anh Minh Tài Đức, được thừa hưởng một truyền thống văn hóa vô giá của cha ông để lại cho hôm nay và các thế hệ mai sau.
Chúc sức khỏe quý vị, chúc ngày khánh thành từ đường thành công viên mãn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hải Dương, ngày 29 tháng 11 năm 2020 
Nhữ Đình Phượng
 
* Những tài liệu tham khảo:
- Các cuốn gia phả họ Nhữ chữ hán nôm sao năm 1906, 1924, 1 quyển không ghi năm.
- Các bài hội thảo khoa học tại Quốc Tử Giám – Hà Nội, tháng 12/2013.
- Di sản Hán Nôm Hải Dương tập III (phát hành 2019).
- Hải Dương xã chí (trang 28 lưu tại viện Hán nôm Hà Nội).
- Bản tin họ Nhữ Việt Nam.
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

GIới thiệu

Tổng hợp các đóng gọp cho hoạt động Ban liên lạc năm 2019

Tổng hợp các đóng góp cho hoạt động Ban liên lạc năm 2019  

Đăng Nhập

Bài viết mới nhất

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HỌ NHỮ VIỆT NAM
www.honhuvietnam.com      E-mail: honhuvietnam@gmail.com

Hotline:                                Fax : +84 4 3 863 1091