Tóm lược 12 danh nhân văn hóa - khoa bảng nổi tiếng họ Nhữ thời xưa: (P3) Bà Nhữ Thị Thục (thế kỷ 16)

Tóm lược 12 danh nhân văn hóa - khoa bảng nổi tiếng họ Nhữ thời xưa: (P3) Bà Nhữ Thị Thục (thế kỷ 16)
Tóm lược 12 danh nhân văn hóa - khoa bảng nổi tiếng họ Nhữ thời xưa: Bài 3 Bà Nhữ Thị Thục (thế kỷ 16) - được phong “Từ Thục Phu Nhân”

Tượng thờ Bà Nhữ Thị Thục tại Nguyễn Nhữ Từ Đường, thôn Nam Tử, xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng, TP Hải Phòng
Bà Nhữ Thị Thục (thế kỷ 16) - được phong “Từ Thục Phu Nhân”
Quê quán: xã An Tử hạ, nay là thôn Nam Tử, xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng, TP Hải Phòng.
Thân thế: Bà Nhữ Thị Thục là con gái quan Thượng thư, Tiến sĩ Nhữ Văn Lan (1443-1523), là thân mẫu của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585).
Tài năng và công lao:

Hầu hết các sách viết về tiểu sử, sự nghiệp của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đều nhắc đến tài học, chí lớn và công lao dưỡng dục của thân mẫu Từ Thục phu nhân. Nhà sử học Ngô Đăng Lợi căn cứ vào sách “Bạch Vân am cư sĩ Nguyễn Văn Đạt phả ký” (Văn Đạt là tên khai sinh của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm) đã khẳng định: Thân mẫu Nguyễn Bỉnh Khiêm là người thông minh, học rộng, giỏi văn chương, thông kinh sử, lại tinh thông cả lý số, thiên văn, đảm lược và có ý chí của bậc trượng phu.
Rất nhiều giai thoại, truyền thuyết ly kỳ về cuộc đời bà. Bà tâm niệm rằng: nếu không lấy được chồng làm vua thì con bà sinh ra sau này cũng phải làm vua. Do vậy bà muộn lấy chồng, khi gặp ông Nguyễn Văn Định có tướng sinh quý tử mới lấy. Tương truyền, bà đã tính toán cẩn thận ngày giờ hợp cẩn và sinh ra Nguyễn Bỉnh Khiêm. Khi Nguyễn Bỉnh Khiêm còn nhỏ đã được mẹ hát ru bằng những câu dân ca hoặc những vần thơ do bà sáng tác, khi ông lên 4 tuổi, bà đem kinh sách dạy cho con, tất cả góp phần hun đúc nên Nguyễn Bỉnh Khiêm - nhà thơ- nhà văn hóa lớn của dân tộc.
Đặt nhiều kỳ vọng vào cậu con trai Nguyễn Văn Đạt (Bỉnh Khiêm), vì vậy, không ít lần bà xích mích với chồng trong việc dạy con: Một lần khi bà đi chợ, ông Văn Định ở nhà buộc dây vào cành tre, kéo lên, kéo xuống cho con chơi và ngâm đùa rằng: “Nguyệt treo cung, nguyệt treo cung”. Những tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm chưa biết gì, ai ngờ cậu lập tức nói: “Vịn tay tiên, nhè nhẹ rung”. Đến khi bà Thục đi chợ về, ông Văn Định kể lại chuyện để khoe vợ, chẳng ngờ bà gay gắt nói: “Nuôi con mong làm vua làm chúa, cớ sao lại mong làm bầy tôi” (nguyệt tượng trưng cho bầy tôi). Lần khác khi vợ đi vắng, ông Văn Định lấy sách của vợ tìm một câu để dạy con, thấy câu: “Bống bống, bang bang, ngày sau con lớn, con tựa ngai vàng”. Ông Văn Định hoảng sợ, lo con đọc thì bị cho là tội phản nghịch, bị chém đầu, bèn sửa chữ “tựa” thành chữ “vịn”. Bà Thục sau này biết chuyện thì than: Sinh con ra, mong con làm vua thiên hạ, lại dạy chữ “vịn”, đó là địa vị của bề tôi ! Rồi sau này bà Thục dùng thuật xem tướng số, thấy con mình tướng mạo rất tốt, hiềm nỗi da hơi thô, nên biết dù có là thiên tài cũng chẳng thể làm vua, cộng thêm mâu thuẫn trong việc dạy con khiến bà Thục chán nản bỏ đi. Giai thoại kể rằng bà còn gặp và lấy ông họ Phùng, sinh ra Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan. Một giai thoại nữa liên quan đến Mạc Đăng Dung: Khi bà đã kết hôn và đang mang thai Văn Đạt, một hôm ra bến đò, bà gặp một người thanh niên đánh cá, nhìn tướng biết sau này sẽ là thiên tử, bà than rằng: Sao trước đây chẳng gặp, giờ gặp làm gì !... Người thanh niên đó, sau tham gia thi trạng võ, đạt giải cao và thắng tiến trên con đường binh nghiệp, quan trường, đã ép vua Lê nhường ngôi, lập ra nhà Mạc, chính là Mạc Thái Tổ.

Vinh phong: được vua phong “Từ Thục Phu Nhân”. Đương thời và hậu thế tôn là là bậc: Kỳ tài và khả kính.
Di tích và nơi thờ tự: Mả Nghè, gồm 03 ngôi mộ: mộ Phụ Thân, Mẫu Thân và mộ của Bà Nhữ Thị Thục nằm trong cụm di tích quê ngoại Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, năm 2005 được thành phố Hải Phòng công nhận là di tịch lịch sử - văn hóa. Thờ tại Nhữ Nguyễn Từ Đường - thôn Nam Tử, xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.

 

Mộ Bà Nhữ Thị Thục tại khu Lăng mộ Mả Nghè, thôn Nam Tử, xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng, TP Hải Phòng
Nhữ Đình Văn