Toàn bộ các bài Sấm Trạng Trình - Nguyễn Bỉnh Khiêm

Ban biên tập: "Sấm Trạng Trình" hiện nay có nhiều bản khác nhau, đáp ứng cho nhu cầu bạn đọc, chúng tôi đăng lại toàn bộ bản (bản A) do Nguyễn Nghiệp sưu tầm, giới thiệu trong sách "Trạng Trình - Sấm và Ký" NXB Văn hóa - Thông tin 1997.
Khu lưu niệm Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm

BẢN A - SẤM KÝ TRẠNG TRÌNH

Đây là bản trích ở “Thành ngữ, điển tích, danh nhân từ điển” (tập 2) của Trịnh Văn Thanh. Bản này ngoài 14 câu "Cảm đề" có 248 câu “Sấm ký” cộng 262 câu.
Để tiện việc nghiên cứu, chúng tôi chia 248 câu trong phần “Sấm ký" thành 58 khổ thơ. với 8 khổ 6 câu còn lại 50 khổ thơ 4 câu và đánh sớm 1 đến 58. Tám khổ thơ 6 câu là các khổ thứ 1 , 6, 1 0, 1 9, 23, 31, 34 và 44

CẢM ĐỀ
Thanh nhàn vô sự là tiên,
Năm hồ phong nguyệt ruỗi thuyền buông chơi(1)
Cơ tạo hoá,
Phép đổi dời,
Đầu non mây khói toả,
Mặt nước cánh buồm trôi,
Hươu Tần mặc kệ ai xua đuổi,
Lầu Hán trăng lên ngẫm mệnh trời.
Tuổi già thưa kém bạn(2)
Văn chương gởi lại đời.
Dở hay nên tự lòng người cả,
Bút nghiên soi hoa chép mấy lời
Bí truyền cho con cháu.
Dành hậu thế xem chơi.

  • (1) Phạm Lãi sau khi lập kế cho Việt Vương Câu Tiễn diệt Ngô Phù Sai rồi chán dường danh lợi đổi tên là Đào Chu cùng với Tây Thi đi chu du trên Ngũ Hồ.
  • (2) Thua kém bạn ở đây có nghĩa là ít bạn (cách nói cổ).

Sấm ký

1.
Nước Nam từ họ Hồng Bàng,
Biển dâu cuộc thế, giang sơn đổi vần.
Tự Đinh, Lê, Lý, Trần thuở trước,
Đã bao lần ngôi nước đổi thay
Núi sông thiên định đặt bày
Đồ thư một quyển xem nay mới rành.

Chú thích: (1) Khổ mở đầu. Đồ thư là bản đồ và sách.

2.
Hoà đao mộc lạc
Thập bát tử thành.
Đông A nhật xuất,
Dị mộc tái sinh.

Chú thích: (2) Hoà, đao, mộc là chữ Lê, lạc là rơi, ý nói nhà Lê hết, Thập, Bát, Từ là chữ Lý ám chỉ nhà Lý nối tiếp. Đông A là chữ Trần. Dị mộc tái sinh là cây khác sống lại, ý nói nhà Hậu Lê.

3
Chấn cung xuất nhật
Đoài cung vẫn tinh.
Phụ nguyên trì thống,
Đế phế vi đinh.           (đọc bình luận)

Chú thích: (3) Nói nhà Nguyễn Tây Sơn xuất hiện

4.
Thập niên dư chiếm,
Thiên hạ cửu bình.
Lời thần trước đã ứng linh,
Hậu lai phải đoán cho minh mới tường.

Chú  thích: (4) Hơn mười năm chinh chiến, thiên hạ mới được lâu dài yên ổn.

5
Hoà đao mộc hồi dương sống lại.
Bắc Nam thời thế đại nhiễu nhương
Hà thời biện - lại vi vương
Thử thời Bắc tận Nam trường xuất bôn.     (đọc bình luận)

Chú thích: (5) Thời Trịnh - Nguyễn đánh nhau, Nam Bắc phân tranh, nhà Lê Trung Hưng, Nguyễn Nhạc lên làm vua.

6.
Lê tồn, Trịnh tại,
Lê bại, Trịnh vong.              (đọc bình luận)
Bao giờ ngựa đá sang sông,
Thì dân Vĩnh Lại quận công cả làng.
(Hà thời thạch mã độ giang
Thử thời Vĩnh Lại nghênh ngang công hầu) (Đọc bình luận)

Chú thích: (6) Nói về quan hệ giữa vua Lê và chúa Trịnh Dân Vĩnh Lại cả làng được làm quận công

7
Chim bằng cất cánh về đâu ?
Chết tại trên đầu hai chữ quận công
Bao giờ trúc mọc qua sông
Mặt trời sẽ lại đỏ hồng non tây.  (đọc bình luận)

Chú thích: (7) Về Nguyễn Hữu Chỉnh (bằng quận công) và chiến thắng Đống Đa lịch sử 

8
Đoài cung một sớm đổi thay,
Chân cung sao cũng sa ngay chẳng còn.
Dầu cha lộn xuống chân con
Mười bốn năm tròn hết số thì thôi.   (đọc bình luận)

Chú thích: (8) Vua Quang Trung truyền đến đời vua Cảnh Thinh, hai đời được mười bốn năm 

9
Phụ nguyên chính thống hẳn hoi,
Tin dê lại phải mắc mồi đàn dê.
Dục lòng chinh chích u mê
Thập trên tứ dưới nhất đè chữ tâm.    (đọc bình luận)

Chú thích: (9) Nhà Nguyễn mắc mồi Tây Dương, mất chủ quyền về tay người Pháp và cái chết của vua Dục Đức 

10
Để loài bạch quỷ Nam xâm,
Làm cho trăm họ khổ trầm lưu ly.
Ngai vàng gặp buổi khuynh nguy.
Gia đình một ở ba đi dần dần,
Cho hay những gã công hầu,
Giầu sang biết gửi nơi đâu chuyến này.  (đọc bình luận)

Chú thích: (10) Nhà Nguyễn đưa dân ta vào vòng nô lệ và ba vị vua yêu nước bị đi đày ở Châu Phi 

11
Kia kìa gió thổi lá rung cây.
Rung Bắc rung Nam Đông tới Tây.
Tan tác KIẾN kiều AN đất nước
Xác xơ Cổ thụ sạch AM mây.     (đọc bình luận)

12
LÂM giang nổi sóng mù THAO cát,
HUNG địa tràn dâng Hoá nước đầy.
Một ngựa một yên ai sùng bái ?
Nhắn con nhà VĨNH BẢO cho hay. (đọc lời bình)

Chú thích: (11,12) Cuộc khởi nghĩa Yên Bái bất thành năm 1930.

13
Tiền ma bạc quỷ trao tay,
Đồ, Môn, Nghệ, Thái dẫy đầy can qua.
Giữa năm hai bẩy mười ba,
Lửa đâu mà đốt tám gà trên mây.  (đọc bình luận)

Chú thích: (13) Các cuộc khơi nghĩa đầu thế ký 20 và cái chết của viên toàn quyền Pierre Pasquier 

14
Rồng nằm bể cạn dễ ai hay,
Rắn mới hai đầu khó chịu thay.
Ngựa đã gác yên không người cưỡi,
Dê không ăn lộc ngảnh về Tây.

15
Khỉ nọ ôm con ngồi khóc mếu,
Gà kia vỗ cánh chập chùng bay
Chó nọ vẫy đuôi mừng thánh chúa,
Ăn no ủn ỉn, lợn kêu ngày.

Chú thích: (14, 15) Những biến cố trong tám năm liên tiếp : Thìn, tị, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi.

16
Nói cho hay khảm cung ong dậy,
Chí anh hào biết đấy mới ngoan,
Chữ rằng lục, thất nguyệt gian,
Ai mà giữ được mới nên anh tài.

17
Ra tay điều đỉnh hộ mai,
Bây giờ mới rõ là người an dân.
Lọ là phải nhọc kéo quân,
Thấy nhân ai chẳng mến nhân tìm về.

18
Phá điền than đến đàn dê,
Hễ mà chuột rúc thì dê về chuồng.
Dê đi dê lại tuồn luồn,
Đàn đi nó cũng một môn phụ trì.

19
Thương những kẻ nam nhi chí cả,
Chờ vội sang tất tả chạy rong.
Học cho biết chữ cát hung,
Biết phương hướng đứng chớ dừng lầm chi,
Hễ trời sinh xuống phải thì,
Bất kỳ nhi ngọ tưởng gì đợi mong.

20
Kìa những kẻ vội lòng phú quý,
Xem trong mình một tí đều không
Ví dù có gặp ngư ông,
Lưới đăng đâu dễ nên công mà hòng.

21
Khuyên những đứng thời trung quân tử,
Lòng trung nghi nên giữ cho mình.
Âm dương cơ ngẫu hộ sinh,
Thái Nhâm, Thái ất trong mình cho hay.

22,23
Chờ vật vờ quen loài ong kiến,
Hư vô bàn miệng tiếng nói không .
“Ô hô thế sự tự bình bồng,
Nam, Bắc hà thời thiết lộ thông.
Hồ ẩn sơn trung Mao tận bạch, (đọc bình luận)
Kinh cư hải ngoại huyết lưu hồng.
Kê mình ngọc thụ thiên khuynh Bắc,
Ngưu xuất Lam điền nhật chính Đông.
Nhược đãi ưng lai sư tử thượng,
Tứ phương thiên hạ thái bình phong”

Chú thích: (22,23) Tám câu cuối, ông Ngư Phố giác đã dịch nôm như sau :

Than đi thế sự thật bình bồng !
Nam, Bắc chừng nào thiết lộ thông ?
Hồ ẩn trong non, mao thấy trắng,
Kình ngoi ngoài biển huyết loang hồng.
Gà kêu cây ngọc trơi nghiêng Bắc,
Trâu tới Lam điền bóng rạng Đông
Tới lúc ưng về sư tứ dậy,
Thái bình mớn toả khắp non sông

24
Ngõ mây gặp hội mây rồng,
Công danh rạng rỡ chép trong vân đài.
Nước Nam thường có Thánh tài.
Sơn hà vững đặt ai hay tỏ tường?

25
So mấy lề để tàng kim qũy,
Kể sau này ngu bỉ được coi.
Đôi phen đất lở cát bồi,
Đó đây ông kiến dậy trời quỷ ma.

26
Ba con đổi lấy một cha,
Làm cho thiên hạ xót xa vì tiền .
Mão, Thìn, Tý, Ngọ bất yên,
Đợi tam tứ ngũ lai niên cũng gần.   (đọc bình luận)

Chú thích: (26) Việc thay dần đồng tiền Khải Định bằng đồng Bảo Đại 

27
Hoành sơn nhất đái,
Vạn đại dung thân,        (đọc bình luận)   
Đến thời thiên hạ vô quân,
Làm vua chẳng dễ, làm dân chẳng lành.  (đọc bình luận)

Chú thích: (27) Chúa Nguyễn vào Nam cũng có thế lực 

28
Gà kêu cho khỉ dậy nhanh,
Phụ nguyên số đã rành rành cáo chung,  (đọc lời bình)
Thiên sinh hữu nhất anh hùng,
Cửu dân độ thế trừ hung diệt tà.

Chú thích: (28) Nhà Nguyễn cáo chung

29
Thái Nguyên cận Bắc đường xa,
Ai mà tìm thấy mới là thần minh,
Uỷ nghi dung mạo khác hình,
Thác cư một góc kim tinh phương Đoài.

30
Cùng nhau khuya sớm chăn nuôi,
Chờ cơ mới sẽ ra đời cứu dân,
Binh thư mây quyển kinh luân
Thiên văn, địa lý, nhân dân, phép mầu.

31
Xem ý trời ngõ hầu khải thánh,
Dốc sinh ra điều đỉnh hộ mai.
Song thiên nhật nguyệt sáng soi,
Thánh nhân chẳng biết thì coi như tường
Thông minh kim cổ khác thường,
Thuấn, Nghiêu là trí, Cao Quang là tài.

Chú thích: (29-31) Một vị thành nhân sáng suốt mở đường cho dân tộc, đức độ nhân trí như vua Nghiêu, vua Thuấn, tài giỏi như vua Hán Cao tổ và vua Quang Vũ đế.

Còn nữa... xem phần 2 

Theo: Nguyễn Nghiệp
Trạng Trình sấm và ký - Nhà XB Văn Hoá - Thông Tin 1997

Sưu tầm: Nhữ Đình Văn