03:58 EST Thứ năm, 15/11/2018

Danh mục bài viết

Gủi bài viết

Các bài viết

Trang nhất » Bài viết » Văn học – Nghệ thuật

Trên Chúa trên Vua (Phạm Thái Quỳnh)

Thứ bảy - 10/03/2012 20:35

TRÊN CHÚA TRÊN VUA*
Truyện ngắn

Tác giả: Phạm Thái Quỳnh


Mả Nghè, lăng mộ cụ ông, bà tiến sĩ Nhữ Văn Lan và con gái Nhữ Thị Thục tại quê hương cụ thôn An Tử hạ, xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng, TP Hải Phòng. Ảnh ĐV

Tiến sĩ Nhữ Văn Lan không phân vân mà chỉ thấy là lạ. Cô út của ngài qua tuổi tròn trăng đã lâu mà không hề bận tâm chuyện riêng tư. Giá như con ngài xoàng xĩnh kém cỏi âu cũng là một nhẽ, đằng này Nhữ Thị Thục danh nức Kinh thành. Trong giới nữ lưu quyền quý, ái nữ của ngài được nhiều người ngưỡng mộ bởi tài sắc vào bậc nhất Tràng An. Không ít mày râu dòng trâm anh thế phiệt đến cầu hôn, Nhữ Thị Thục đều dửng dưng.

Vị Thượng thư bộ Hộ đồ rằng cô út chưa gặp người xứng tài. Ngài bèn ngầm kén cho ái nữ trang tuấn tú con của một Thượng thư phẩm hạnh như son, Chàng trai này làu thông kinh sách, giỏi thi phú. Hai cây bút cự phách trong Tao đàn Văn chương thời ấy là Lương Thế Vinh và Thân Nhân Trung cũng đã khen. Nhữ Tiến sĩ thầm nghĩ con gái sẽ bằng lòng người mà ngài chọn. Chàng trai ấy cũng thầm thương trộm nhớ con gái ngài. Để con gái bị "chinh phục" một cách tự nhiên, Nhữ Tiến sĩ đưa cho ái nữ mấy bài thơ của "tế tử" tương lai. Tiến sĩ họ Nhữ chắc mẩm con gái sẽ tấm tắc. Năm bảy ngày qua đi, con gái không hề nhắc tới những bài thơ ấy. Vị Thượng thư bộ Hộ khéo léo hỏi con. Cô út cưng bộc bạch: Những bài thơ ấy có khác gì thơ của Hội Tao đàn, quanh quẩn vẫn chỉ vua sáng tôi hiền mòn sáo. Thủ bút của những bài thơ ấy có thể thành danh nhưng trăm họ được nhờ gì ở một kẻ làm quan mà chỉ biết nịnh vua hưởng lộc?

Nhữ Thượng thư nao nao buồn. Chàng trai hoàn hảo trong mắt ngài lại không là gì trong mắt con gái. Lý tưởng tôn quân của ngài, con gái không hề coi trọng.

Nhữ Thị Thục am tường sâu sắc Nho gia nhưng Khổng tử không phải là miếu thờ của nàng. Người mà nữ lưu họ Nhữ tôn làm thầy là Thiệu Ung - danh sĩ thời Tống, Trung Nguyên. Huyền vi thiên địa, bí ẩn nhân gian, biến hoá vũ trụ hình như Thiệu Tiên sinh đều biết trước. Ngay khi triều Tống còn khá thịnh, ngài đã đoán định năm tháng họ Triệu diệt vong. Điều đó xảy ra đúng như Thiệu Ung tiên tri. Khả năng kỳ diệu biết trước biết sau, thông tỏ thiên địa, thấu suốt nhân gian ở Thiệu Ung do thần lực của thuật số đem đến. Thấm nhuần trước tác của Thiệu Ung cùng tư chất trời phú, Nhữ Thị Thục nhìn nhận sự vật bằng nhãn quan nhất thành tất biến. Trật tự do vua sắp đặt trái với chuyển vần tự nhiên của tạo hoá.


Tượng thờ bà Nhữ Thị Thục tại quê hương bà, thôn An Tử hạ, xã Kiến Thiết, Tiên lãng, Hải Phòng. Ảnh ĐV

Các nữ lưu con nhà quyền quý thường trướng rủ màn che, quanh quẩn với cúc với mai trong hoa viên. Nữ lưu Nhữ Thị Thục không như vậy. Muôn nẻo đường trần, sơn thanh thuỷ tú mới là sở thích của Nhữ tiểu thư. Gót sen của nàng in dấu hầu hết thắng địa dưới trời Nam. Một triêu dương lâng lâng nắng lụa, nàng vân du Hương Tích sơn bầu bạn với mai trắng trời xuân, giao du cùng quần anh tứ xứ. Trời xui hay bởi có duyên như Phật dạy, Nhữ Thị Thục đã gặp chàng trai quê làng Trung Am xứ Đông, cách nguyên quán của thân phụ vài ba chục lần mái chèo khỏa sóng nối đôi bờ dâu, mía sum suê. Trực giác trời phú cùng minh triết thuật số khiến Nhữ tiểu thư nhận ra "viên ngọc" lấp lánh ẩn trong hồn phách chàng trai bình dị. Qua vài lần tiếp kiến, Nhữ Thị Thục đã tỏ tường cốt cách Nguyễn Văn Định. Kinh sách khiến chàng hiểu biết ngoại thân, nhưng bí ẩn nội thân chàng không thể biết. Đó là hậu thân Nguyễn Văn Định sẽ làm thầy các vua.

Chàng trai xứ Đông đề cao tư tưởng "hữu giáo vô loại" của Khổng gia. Mong muốn của Nguyễn Văn Định là mọi đứa trẻ đều hiểu đạo thánh hiền để làm người. Chàng chọn nghề khai tâm rèn trí cho trẻ thơ là bởi lẽ đó. Hữu duyên hạnh ngộ thành cầm sắt, Nhữ Thị Thục đã chọn chàng trai Trung Am làm hôn phu.

Con gái chủ động đính ước với chàng đồ quê khiến Nhữ Thượng thư giật mình. Ngài tìm cách ngăn cản. Bảng nhãn Lương Đắc Bằng đã kịp thời làm cho Nhữ Tiến sĩ vỡ lẽ: Kỳ duyên này do trời sắp đặt. Cô nhà thông tỏ huyền vi nhân gian mới chọn Văn Định. Sau này, ngoại tôn của ngài ở lều cỏ, đi giầy rơm các vua vẫn phải tìm đến. Tôi đã gặp chàng trai cô nhà lựa chọn... Người khác nói hẳn là Nhữ Tiến sĩ hồ nghi. Danh khoa đệ nhị triều, giỏi thuật số nhất Kinh thành nói lẽ nào ngài không tin?

Chàng đồ quê ngẫu nhiên vớ bở, du xuân hạnh ngộ nên duyên cùng nữ lưu bậc nhất Kinh kỳ. Nhiều công tử phong lưu quyền quý tức nghẹn cổ, giương mắt nhìn anh đồ rau muống sánh duyên cùng thục nữ Thăng Long. Trong số đông kẻ mê mết giai nhân họ Nhữ, con trai Thượng thư bộ Hình tức đến hóa điên. Hắn lồng lên toan gây sự. Thượng thư bộ Hình nổi lôi đình mắng con: Ngươi dốt nát nên coi trời bằng vung. Hoàng thượng rất sủng ái vị họ Nhữ(1). Đụng đến con gái vị ấy là vuốt râu cọp đấy. Quý tử của vị Thượng thư ấy đuột mặt ra. Cuộc hôn nhân "cọc tìm trâu" khai hoa vào năm Canh Tuất - 1490. Bé trai mang cốt nhục Nguyễn Văn Định ra đời. Nhữ Thị Thục xin Bảng nhãn họ Lương cho tên. Nhà thuật số thông kim quán cổ đặt tên bé là Bỉnh Khiêm. Cậu bé Khiêm tư dung ngời ngời, mi thanh mục tú khiến Nhữ Thị Thục tin chắc kết tinh của kỳ duyên sẽ là một kỳ tài. Để tài năng của con nảy nở, bà Nhữ Thị Thục đã trao Bỉnh Khiêm cho thày Lương Đắc Bằng rèn giũa, khi cậu bé mới bảy tuổi.

Bỗng người mẹ trẻ nao nao buồn. Nhà Lê như cây hết thời xanh đến tiết vàng. Vạn vật hữu sinh hữu diệt. Triều Lê đã có dấu hiệu suy tàn. Con của bà sẽ làm thaafy ông vua nào khi vị vua thứ sáu của nhà Lê là Túc Tông băng thì bạo chúa xuất hiện. Thi thể Túc Tông chưa nguội, Hoàng Thái hậu đã gấp gáp chuẩn bị đặt Khôi Vương vào ngai rồng. Kính phi liền đưa nghĩa tử Lê Tuấn ra tranh chức. Hoàng Thái hậu không e ngại đã nói toạc ra: Tuấn là trẻ ranh con của tỳ thiếp thấp hèn, lau ngai vàng chưa xứng nói chi đến ngự ngôi báu. Nhưng Thái hậu đâu có biết, Nội thần Nguyễn Như Vỹ là tâm phúc của Kính phi đã đổ kho vàng lo lót những cửa cần lo lót. Thời nào cũng vậy, kim ngân luôn có thần lực biến đen thành trắng. Lê Tuấn đã mua được giang sơn. Trên đời không chỉ một Lã Bất Vi buôn vua, Kính phi đã sớm nhận ra điều này. Năm Ất Sửu - 1505, Lê Tuấn trở thành vua Uy Mục. Một cuộc tắm máu diễn ra. Hoàng Thái hậu được Lê Tuấn "ưu ái" ban cho "ngự tửu" đầu tiên. Kế đến là trọng thần Đàm Văn Lễ và Nguyễn Quang Bật. Hai người trung thành với Hoàng Thái hậu bị biếm chức, sau đó bị mượn luôn cái đội mũ. Hơn ba tháng đặt mông vào ngai vàng, Uy Mục đã biệt đãi gần hai trăm người được cư trú vĩnh viễn ở âm gian.

Giết người đối với Uy Mục như là một trò tiêu khiển. Ngoài trò quái gở ấy, Uy Mục đêm đêm cùng bọn sủng thần vùi đầu vào hoan lạc. Dâm quân bắt cung nữ thoát y để thỏa mãn hai tròng mắt. Vua tôi nốc mỹ tửu như nốc nước lã. Kẻ nào say phải cố ngậm miệng, nếu nói say bị chém đầu ngay. Đi dự yến ngỡ đi tới pháp trường, các sủng thần đều dựng tóc gáy. Một Thái giám ngoại thích ranh mãnh đã nhờ ngự y chế thuốc giải tửu. Những kẻ phải đối ẩm cùng dâm quân đã bỏ tiền mua "linh dược" rồi lén uống trước khi vào cuộc hành lạc bệnh hoạn. Uy Mục không màng đến triều chính. Bạo chúa trao triều đình cho Tổng quản Thái giám ngoại thích Nguyễn Hối rồi vùi đầu vào men rượu và yếm áo đàn bà. Nhiều cung nữ không chịu được sự bạo dâm của Lê Tuấn đã tìm cách xuất cung. Qua sông ắt phải lụy đò, cung nữ muốn thoát nanh vuốt "vua quỷ" phải "chiều" Nguyễn Hối. Trớ trêu, Hối đã bị cung hình có rất thèm ấy cũng không thể ấy. Hối không ấy được thì kẻ khác ấy. Kẻ nào ấy thì phải đút vàng vào túi Hối.

Vua quan nhà Lê như thế, bà Nhữ Thị Thục phải có cách lo cho con.  


Di tích Đình Đông tại thôn An Tử hạ, xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng, TP Hải Phòng (Am thờ nhỏ này được xây dựng sau khi đình bị phá hủy), nơi thờ Cụ Nhữ Văn Lan là Thành Hoàng, Chính địa danh này xưa kia là tư dinh của tiến sĩ Nhữ Văn Lan

Theo định kỳ năm Mậu Thìn - 1508, khoa thi lại mở. Ông Nguyễn Văn Định chuẩn bị kỹ lưỡng cho Bỉnh Khiêm đi thi. Bà Nhữ Thị Thục bèn hỏi: - Phu quân nghĩ đã kỹ chưa?
Ông đồ rành rọt đáp:
- Tôi định cho con ứng thí từ năm Ất Sửu. Nhưng năm ấy Uy Mục mới lên, chém giết xảy ra khắp nơi nên phải tạm đình. Nay Kinh thành tạm yên, con cũng đã 19 tuổi rồi không ứng thí thì đợi đến bao giờ?
Bà Nhữ Thị Thục tỏ ra không vui. Bàn cờ thế cuộc bày ra trước mắt. Người thông tuệ nhìn ra ngay. Triều đình nhà Lê như cái đó rách, tôm tép xổng hết còn lại toàn rác rưởi. Vua bạo, quan tham, ngoại thích lộng hành bán chức như bán trâu bán chó. Triều đình như vậy dung dưỡng sao được hiền tài. Bà nhỏ nhẻ:
- Dễ tôi không muốn con đi thi chắc? Thi hội không nói làm gì. Thi đình, Bỉnh Khiêm không nhất trường thì cũng nhị trường. Nhưng chẳng lẽ mũ cao áo dài lại phụng thờ bạo quân dâm loạn. Nếu không làm quan, con sẽ mang tội lớn. Bạo quân và lộng quan có bỏ qua cho con không?
Ông Nguyễn Văn Định ngây ra:
- Vậy con nó phải đợi đến bao giờ?
Nhìn về xa xôi, bà Nhữ Thị Thục đáp:
- Triều Lê sắp tàn. Bỉnh Khiêm phải nén chí vài chục năm nữa.
Ông Nguyễn Văn Định ngạc nhiên hỏi:
- Triều Lê là triều chính thống sao lại tàn?
Bà Nhữ Thị Thục cười:
- Phu quân đã thấy triều đại nào không suy tàn chưa? Ngoài mong muốn vĩnh hằng của vua chúa, tạo hóa hữu sinh tất hữu diệt. Triều Lý sinh ắt triều Tiền Lê mất. Nhà Lý lụi tàn tất nhà Trần lên thay... Nếu vạn vật bất biến, thiếp và phu quân hẳn không có mặt trên đời và cũng không có triều đình hôm nay. Sông núi không của riêng họ nào thì làm gì có chính thống mà chỉ có thuận hay nghịch thôi. Triều đình nào, khi nào thuận với nhân gian thì xanh tươi. Triều đình nào, khi nào nghịch với nhân gian thì vàng úa. Chính thống chỉ là điều bịa đặt để lừa đời. Ngai vàng càng lung lay chính thống càng phải tô cho đẹp. Với thức giả, chính thống chỉ là trò cười.
Ông Nguyễn Văn Định thở dài:
- Vài chục năm nữa, Bỉnh Khiêm "nhi bất hoặc" rồi còn thi thố gì nữa!
Bà Nhữ Thị Thục thản nhiên:
- Vậy Thái Công tuổi bảy mươi mới giúp Văn Vương nhà Chu nên đại nghiệp, phu quân nghĩ sao?

 *
Khoa thi năm Mậu Thìn - 1508, Nguyễn Giản Thanh, Hứa Tam Tỉnh, Nguyễn Hữu Nghiêm đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ. Nhiều người hy vọng vào các danh khoa ấy. Bà Nhữ Thị Thục lại dửng dưng. Vì những ông nghè này đội chữ trung bất biến lên đầu, cúc cung bạo chúa trông mong được gì? Nhưng tin Mạc Đăng Dung được chọn làm "Thiên vũ vệ đô chỉ huy sứ" khiến bà lại quan tâm. Tiên tri của bà bước đầu đã đúng. Bà hồi tưởng, kỷ niệm thức dậy. Năm Ất Sửu - 1505, Kinh thành nhuốm máu trả thù sau khi Uy Mục chấp chính. Con trai bà nương nhờ ông ngoại theo học thày Lương Đắc Bằng. Dù Bỉnh Khiêm chín chắn nhưng giao du nhiều, điều gì cũng có thể xảy ra.Vậy là bà trẩy Kinh xin ông ngoại và thầy Lương cho Bỉnh Khiêm về Trung Am ở với bố mẹ vài ba chục ngày. Thày Lương thấy cũng phải. Bỉnh Khiêm về ở với thầy Nguyễn Văn Định kiến văn chắc sẽ đầy đặn thêm, cũng là dịp Bỉnh Khiêm có thể đi đây đi đó để thấu nỗi nhân gian.

Một chiều, thu rơi nhè nhẹ. Bà Nhữ Thị Thục cùng con trai hướng Đồ Sơn cất bước. Bén heo may, sen bâng khuâng cuốn lá. Cúc dại ven đường râm ran hương mới. Chiều vãn, hai mẹ con tới bến đò sông Cái. Đại giang mênh mông, đò lỡ chuyến. Vậy là hai mẹ con bà không thể đến nơi muốn đến trước khi gà lên chuồng, phải tìm nơi nào tá túc vậy. Kinh thành nhốn nháo bao nhiêu, vùng quê này yên ả bấy nhiêu. Trời sắp tắt nắng. Cảnh như tranh vẽ. Lúa bén phù sa bẽn lẽn xanh. Sóng ửng sắc vàng trong lãng đãng hoàng hôn. Cánh cò bồng bềnh trên thảm non xanh. Mõ chài nhấp nhô đầu sóng. Bỉnh Khiêm ngây người nhìn buồm mây xuôi phía bể cả, lòng lâng lâng khao khát... Bà Nhữ Thị Thục bước tới quán chè xanh tìm vị chát ngọt xóm quê. Vừa lúc ấy, một trai tráng tay xách lưới, hông đeo giỏ bước vào quán, nói lớn:
- Bà dặn con mãi. Hôm nay, con mới lưới được chú Vền mang về cho bà đây.
Chàng trai mở hom giỏ lôi con cá Vền đưa cho bà chủ quán. Móm mém cười, bà chủ quán mừng rỡ:
- Cá Vền to như thế này hiếm lắm, béo múp cả đầu. Người ta ví béo như Vền thật không sai. Nhưng lão nói trước, hôm nay chưa có tiền. Mai cậu qua, lão trả.
- Tiền với nong gì bà ơi. Con biếu bà.
- Cậu có lòng tốt, lão xin nhận. Nhưng cậu vất vả đầu sông cuối bãi mà không lấy tiền thì cầm cá về.
- Vâng vâng, mai con lấy.
Bà quán rót nước đưa cho chàng trai:
- Chè đồi đất sỏi mới hãm, cắm tăm đấy. Cậu uống đi.
Chàng trai làm một hơi hết bát nước chè. Thấy dung quang chàng trai lạ lắm, bà Nhữ Thị Thục định thần chú mục nhận ra: Tư dung kỳ tú, khí tượng phi phàm, long tàng hổ ẩn. Đặc biệt là lưỡng mục như hai vì tinh tú. Bà nhủ thầm: Người này có thể là người của những biến cải kinh thiên động địa. Chàng trai đi rồi, bà Nhữ Thị Thục hỏi chủ quán:
- Bà ơi, cái người vừa bán cá tên là gì, quê quán ở đâu hở bà?
Bà chủ quán cười:
- Cô hẳn là người nơi khác rồi.
- Bà tinh thật! Nhưng sao bà biết?
- Người quanh đây ai mà không biết cậu ấy. Cô không biết thì rành rành cô là người nơi khác rồi còn gì.
- Bà còn tỉnh lắm!
- Nhờ giời, tôi chưa lú lẫn. Cậu ấy tên là Dung, quê ở Cổ Trai, tốt nết lắm. Ai nhờ việc gì, giúp được là cậu ấy giúp ngay.
- Bà ơi, ngoài chài lưới cậu ấy có làm gì nữa không?
- Hỏi gì mà hỏi lắm thế, cô năm nay bao nhiêu tuổi?
- Dạ thưa bà, con ngót bốn chục rồi ạ.
- Chồng con gì chưa?
- Thưa, cháu lớn của con mười sáu rồi, đang đứng ngoài kia kìa.
- Thế là phúc! Tưởng chưa chồng vừa trông thấy trai mà đã rò re róc rách là hư.
Dừng giây lát, bà quán nói tiếp:
- Cậu ấy chài lưới giỏi, vật cũng giỏi. Cả vùng này chưa ai vật ngã cậu ấy.

Đêm thôn dã, Bỉnh Khiêm tròn giấc. Bà Nhữ Thị Thục ngồi chuyện trò với chủ quán tới gần sáng. Bình minh vừa rạng chân mây, bà và con đã qua sông. Không dấn bước tới Đồ Sơn, bà hướng tới Cổ Trai. Mượn cớ cần mua đôi cá Vền "làm thuốc chữa bệnh", bà tìm đến nhà người giỏi chài lưới. Chủ khách chuyện trò rất vui vẻ. Bà Nhữ Thị Thục đã tỏ tường. Chàng trai giỏi chài lưới, giỏi vật, tướng mạo long tàng hổ ẩn, tính danh là Mạc Đăng Dung, sinh năm Quý Mão - 1483, đã có vợ có con, phát tích từ Long Động, chuyển cư xuống Cổ Trai mới vài ba đời. Việc bà Thục nhờ "tìm cá chữa bệnh", Đăng Dung nhận lời. Khi nào lưới được hai con Vền - một đực một cái to bằng lá bàng, chàng trai sẽ đem tới Trung Am cho bà Thục.

Đúng như bà chủ quán nói, chàng trai chài lưới rất tốt bụng. Bà Nhữ Thị Thục "xong việc" chào Đăng Dung, hẹn sẽ quay lại rồi cất bước. Hai mẹ con bà băng tới Đồ Sơn. Dự đám cưới của người cháu xong, bà dấn bước tới Long Động. Trò chuyện với ông chủ sự hương đèn Mạc tộc, bà càng tỏ tường thêm. Chàng trai chài lưới làng Cổ Trai có viễn tổ là Mạc Hiển Tích, đỗ Minh kinh bác học khoa Bính Dần - 1086, thời Nhân Tông nhà Lý, được bổ làm Hàn lâm học sĩ. Chiêm Thành bỏ tuế cống, Hoàng đế Nhân Tông sai Mạc Hiển Tích sang Chiêm vào năm Giáp Tuất - 1094. Tài năng xuất chúng của quan Hàn lâm đã làm nổi bật vai trò Đại Việt đối với thái bình của hai nước, khi mà "Thiên triều" luôn ngó xuống phương nam. Nhận ra phải cần nương tựa vào nhau, Chiêm Thành khôi phục tuế cống, giao hảo hai nước lại sáng lên. Then máy chuyển vần 218 năm sau, Mạc tộc mới lại chung đúc được một hiền tài lỗi lạc. Đó là Mạc Đĩnh Chi giành ngôi Trạng nguyên khoa Giáp Thìn - 1304 thời Anh Tông, Triều Đông A. Vị Trạng nguyên dị dạng này đã đại náo Nguyên triều làm vinh quốc thể, lưu lại những giai thoại nức lòng người. Lại hơn hai trăm năm nữa qua đi, tinh túy Mạc tộc mới có thể chung linh vào một người thiếu chữ nhưng lại thừa hào khí.

Những suy nghĩ có liên quan đến Mạc Đăng Dung khiến bà Nhữ Thị Thục rảo bước trở lại Cổ Trai. Lần này, bà không cho Bỉnh Khiêm đi theo.

Đăng Dung vừa đi lưới về cũng là lúc bà Nhữ Thị Thục tới. Bê cả rổ cá ra, chàng trai phân trần:
- Mấy hôm trước không có cá Vền, hôm nay cũng vậy. Đã nói với bà rồi, hễ có cá là tôi mang tới Trung Am ngay. Bà không tin à?
Bà Nhữ Thị Thục cười:
- Tôi tin chứ. Có tin cậu, tôi mới trở lại. Cậu có nhớ người ngồi uống nước ở quán gần bến đò, hôm cậu bán cá không?
Đăng Dung ngây người suy nghĩ, rồi hỏi:
- Hôm ấy có một người đàn bà ngồi ở quán, người ấy chẳng nhẽ lại là bà?
- Đúng là tôi. Ngoài tôi là cậu. Tôi chợt nhận ra cậu có tướng lạ. Hiếu kỳ, tôi tìm đến nhà nhưng cậu không nhận ra. Tôi nhờ cậu chài lưới bắt cho đôi cá Vền làm thuốc là giả, trò chuyện để thấu kỳ khí ẩn trong cậu mới là thật. Cậu thương người nên không nhận ra phi lý của việc tôi nhờ vả. Chài lưới từ năm tám tuổi, cậu đã bao giờ bắt được đôi Vền một đực một cái to bằng lá bàng chưa?
- Đúng là chưa bao giờ.
- Làm gì có cá Vền to bằng lá bàng. Cá Vền rất hiếm, lại còn một đực một cái bói đâu ra. Gặp cậu bán cá cho bà hàng nước, tôi bịa ra chuyện mua cá để vào thăm cậu...
- Vậy bà trở lại vì việc gì?

- Trời xui, cậu gặp tôi. Thể theo huyền vi, tôi khuyên cậu. Năm nay, triều đình chắc phải thi võ. Cậu đi thi tất đỗ, rồi sẽ làm nên chuyện. Hãy làm theo lời tôi khuyên.

Đăng Dung cảm ơn Bà Nhữ Thị Thục. Mồm thì hứa sẽ đi thi nhưng lòng vẫn nửa tin nửa ngờ, chàng trai cứ phân vân... Quy luật của muôn đời, kẻ giết người rất sợ bị người giết. Trong tâm trạng ấy, bạo chúa Uy Mục phải thi võ tuyển quân túc vệ khi mùa đông vừa tới. Dù nửa tin nửa ngờ, Đăng Dung vẫn đi thi vật. Tiên tri của Bà Nhữ Thị Thục đã đúng. Mạc Đăng Dung chiếm giải nhất, đỗ "Võ cử được sung vào quân túc vệ". Từ một kẻ cầm dù che cho bạo quân, Đăng Dung đã nhảy lên chức "Thiên vũ vệ đô chỉ huy sứ" vào năm Mậu Thìn - 1508. Gần hai chục năm sau, Cung Hoàng đã phong Mạc Đăng Dung làm An Hưng Vương, gia phong Cửu tích(2) vào năm Đinh Hợi, tháng 4 (5-1527). Cung Hoàng còn coi Mạc Đăng Dung giúp nhà Lê như Chu Công giúp Thành Vương bên Trung Nguyên xưa. Triều đình trong lòng bàn tay An Hưng Vương. Thái sư Lượng Quốc công Lê Phụ nể trọng Mạc Đăng Dung hơn bố đẻ.

Ngày gặp Mạc Đăng Dung ở bến đò, bà Nhữ Thị Thục nhủ thầm: "Người này có thể là người của những biến cải kinh thiên động địa". Bởi vậy nghe tin Mạc Đăng Dung được thăng tới An Hưng Vương, bà không hề bất ngờ mà chỉ khẽ cười. Nhưng bà không thể không bất ngờ khi biết Mạc Đăng Dung được gia phong Cửu tích. Một ánh chớp lóe lên trong đầu. Không thể chần chừ được, bà bèn trẩy Kinh.

 


Tượng thờ Thái Tổ Mạc Đăng Dung tại từ đường Cổ Trai - Hải Phòng, ảnh sưu tầm

Sau ngày đi Đồ Sơn cùng mẹ, Bỉnh Khiêm trở về Kinh nghiền ngẫm trước tác của Thiệu Ung và dạy học.

Mạc Đăng Dung được phong Vương rồi gia phong Cửu tích khiến Bỉnh Khiêm giật mình! Phải về quê nói với mẹ những thay đổi trọng đại của triều đình sắp diễn ra, ý nghĩ ấy vừa xuất hiện trong tâm thức Bỉnh Khiêm thì bà Nhữ Thị Thục đã hiển hiện trước mắt. Con trai chưa kịp nói gì với mẹ, bà Nhữ Thị Thục đã buộc Bỉnh Khiêm rời Kinh, cùng bà về quê ngay. Kỳ nhân họ Nguyễn chỉ còn biết nhủ thầm: Vậy là triều đình trong túi áo Mạc Đăng Dung mẹ biết cả rồi. Người còn thấu tỏ những việc động trời sắp xảy ra nên buộc mình rời Kinh để tránh tai bay vạ gió.

Mẹ đi guốc vào lòng con. Con tường suy nghĩ của mẹ. Dọc đường không ai đụng đến chuyện triều đình, chỉ bàn sự minh triết, viễn tuệ của thuật số. Về tới nhà Bỉnh Khiêm tẩy trần xong, bà Nhữ Thị Thục mới thủ thỉ: Con ạ, giang sơn sắp có chủ mới. Ngày ấy, vua xứng là vua, con hãy đi thi.

Bỉnh Khiêm nhận ra, điều vô cùng hệ trọng mà mẹ chỉ gói trong mấy lời. Người con hiếu thảo cung kính:

- Thưa mẹ, con đã tỏ tường lời người dạy rồi ạ.

Năm Đinh Hợi - 1527, tháng 6, Mạc Đăng Dung phế Cung Hoàng, chấm dứt 100 năm nhà Lê cai quản núi sông, lập nên triều Mạc. Chàng trai chài lưới làng Cổ Trai trở thành Thái Tổ Mạc triều. Năm Kỷ Sửu - 1529, triều đình mới mở khoa thi đầu tiên. Sĩ tử xuôi ngược nườm nượp trẩy kinh. Trong mắt Nguyễn Bỉnh Khiêm, Mạc Đăng Dung là "trai thời loạn" dựa vào thanh gươm mà nên công. Vậy thì cứ đứng xem tân triều thi cử thế nào đã. Thái Tổ nhà Mạc không ngờ, số người ứng thí ngoài dự kiến của ông vua múa gươm thì giỏi thao bút thì dở. Trong số những ngàn người lều chõng, 27 người áo gấm vinh quy. ..Học theo nhà Trần năm Canh Dần - 1530, Mạc Đăng Dung truyền ngôi cho Thái tử chưa tròn tuổi ba mươi là Mạc Đăng Doanh, lui về làm Thái Thượng hoàng. Năm ấy Mạc Đăng Dung mới 48 tuổi. Truyền ngôi sớm cũng là cách Mạc Đăng Dung cho con "học làm vua". Việc hệ trọng vua không quyết được thì Thái Thượng hoàng quyết.

Khác với cha, Mạc Đăng Doanh từng khêu đèn mài mực. Những năm coi điện Kim Quang, Dục Mỹ hầu Mạc Đăng Doanh vùi đầu vào thi thư. Trở thành Hoàng đế Thái Tông, Mạc Đăng Doanh đã tỏ rõ tài năng và bản lĩnh. ..Năm Nhâm Thìn - 1532, Thái Tông mở khoa thi. Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn chỉ làm "quan sát viên". Ở Kinh thành thời ấy, những người chuộng thi thư đều mến danh Nguyễn Bỉnh Khiêm tài cao đức lớn, con nữ lưu tài danh Nhữ Thị Thục, cháu ngoại Tiến sĩ Nhữ Văn Lan. Chưa thâm giao nhưng Mạc Đăng Doanh đã tri giao với Nguyễn Bỉnh Khiêm. Khi đã có danh lớn là Dục Mỹ hầu, Đăng Doanh vẫn một mực kính trọng Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đáp lại, Nguyễn Bỉnh Khiêm coi Mạc Đăng Doanh như bạn vong niên, bởi Nguyễn Tiên sinh hơn Đăng Doanh 12 tuổi.

Khoa thi đầu, Nguyễn Bỉnh Khiêm không dự thi. Mạc Đăng Doanh đoán Nguyễn Bỉnh Khiêm còn xem xem đã. Khoa thi thứ hai, Mạc Đăng Doanh tin là Nguyễn Bỉnh Khiêm sẽ dự thi. Nhưng danh sách thí sinh không có tên, Quận công Mạc Đình Khoa bèn trình:
- Tâu Hoàng thượng, Bỉnh Khiêm vẫn không dự thi.

Mạc Đăng Doanh hỏi: - Khanh nghĩ thế nào việc Bỉnh Khiêm không ứng thí?
- Tâu Hoàng thượng, thần nghĩ ông ấy tuổi cao nên không muốn đua tranh.
Mạc Đăng Doanh cười:
- Không phải là ông ấy tuổi cao mà là ông ấy thận trọng, còn xem ta múa hay hay là múa dở đấy.
Nhà Mạc tuân theo lề lối thi cử của nhà Lê. Cuộc thi diễn ra ngăn nắp, trang trọng, viên mãn. Khoa thi ấy 27 người đỗ Tiến sĩ. Nguyễn Thiến, Bùi Vịnh, Ngô Sơn Khoái là những gương mặt sáng giá của khoa thi này. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thốt lên: Đăng Doanh là vị vua có thể ổn định tình hình không bằng thanh gươm.

Thời Thái Tông nhà Mạc: "Ban đêm không còn trộm cướp, trâu bò thả chăn không phải đem về, chỉ cần mỗi tháng xem lại một lần, có khi sinh đẻ cũng không biết được là gia súc nhà mình. Trong vòng vài năm, người đi đường không nhặt của rơi, cổng ngoài không phải đóng, được mùa liên tiếp, trong cõi tạm yên"(3). Triều đình có một vị vua làm cho xã tắc thái bình thịnh trị khiến Nguyễn Bỉnh Khiêm ứng thí khoa Ất Mùi - 1535. Có tới 32 người bẻ quế, Nguyễn Bỉnh Khiêm đỗ đầu trở thành Trạng nguyên lỗi lạc của triều Mạc khi ông đã 46 tuổi, tính theo Hội nguyên Giáp Tý.

Mạc triều chọn Nguyễn Bỉnh Khiêm đỗ đầu như một lẽ đương nhiên. Thái Tông ra đề là nhằm vào ông. Vượt lên mọi sĩ tử, vượt lên cả tư tưởng của vua, bài thi ngời ngời tư tưởng thân dân trị quốc, vun đắp hiền tài, chấn hưng sông núi. Những điều này đúng nguyện vọng của vua và lịch sử yêu cầu. Mạc Đăng Doanh chỉ còn biết nể phục, kính trọng. Tự nhiên giữa ông và vua nội triều là quân thần, ngoại triều là tri kỷ. Bốn năm từ chức Đông các thư hiệu khởi phát, ông được thăng Hình bộ tả thị lang rồi Lại bộ tả thị lang kiêm Đông các đại học sĩ. Tòa Kính Diên là nơi Đại học sĩ giảng kinh sách dạy Thái tử Phúc Hải cách làm vua.

*
Tìm mãi, Nguyễn Kim cũng vớ được Lê Ninh, huyền tôn của Thánh Tông - Lê Tư Thành, dựng lên thành Trang Tông. Chọn rừng hoang Thanh Hóa làm cứ địa, Trang Tông chống lại nhà Mạc tìm lại ngai vàng mục ruỗng đã mất. Ông ta còn cử một đoàn theo đường bộ, một đoàn theo đường thủy sang bẩm với vua nhà Minh rằng nhà Mạc thoán ngôi nhà Lê. Mầm mống nhà Minh xâm lược Đại Việt xuất hiện. Trời đang trong bể đang lặng, nhà Mạc bỗng bị kẹt ở giữa hai thế lực. Nam là quân của Trang Tông. Bắc là quân của nhà Minh. Nước đang ở vào thế "Lưỡng đầu cự địch", bất ngờ Thái Tông Mạc Đăng Doanh đột tử vào năm Canh Tý - 1540. Trong số đại thần ngoại thích, Nguyễn Bỉnh Khiêm là người đau đớn nhất. Vì triều đình không ai hiểu và trọng ông như vua Thái Tông. Cú xốc tinh thần khiến mái tóc pha sương của ông chỉ vài ngày đã thành mây trắng. Tri âm tri kỷ không còn, tài kinh bang tế thế hoá viển vông.

Nỗi đau mất chúa chưa vơi, ông lại chịu thêm nỗi nhục quốc thể. Mạc Phúc Hải còn là ấu chúa. Trang Tông cầu cứu nhà Minh. Giặc Minh sinh sự, Đại Việt đứng trước họa mất nước. Thái Thượng hoàng nhà Mạc phải trói tay đầu hàng nhà Minh ở biên ải để tránh binh lửa. Một nhân cách lớn nuốt sao nổi cảnh Thái Thượng hoàng của vương triều Mạc quỳ trước giặc xin hàng!

Giáp Hải là học trò của ông, đỗ Trạng nguyên khoa Mậu Thìn - 1538. Vị Trạng nguyên này tính tình cương trực, tiết tháo hơn người giữ trọng trách giao thiệp với bọn quan lại nhà Minh ở biên ải. Trước nỗi nhục của triều đình, Nguyễn Bỉnh Khiêm hỏi:
- Ngài giữ trọng trách giao thiệp với người Minh mà vua bị nhục, ngài có đau lòng không?
Giáp Hải cung kính:
- Thưa thầy, thầy như thế nào con như thế vậy. Con xin phép được hỏi: Nếu thầy là người phải quyết định việc này, thầy có nhún nhường người Minh không?
Nguyễn Bỉnh Khiêm lạnh cả người. Với người học trò giỏi giang này, ông không thể nói khác lòng mình:
- Muốn tránh cho dân nước một cuộc binh đao, ta cũng không làm khác Thái Tổ được.
- Thưa thầy, con biết Thái Thượng hoàng khổ sở vì việc này. Bài học nhà Hồ còn sờ sờ ra đó. Không nhún mình thì binh đao và mất nước. Khổ nhục kế để người Nam làm chủ nước Nam còn hơn cứng rắn rồi làm tôi tớ giặc Bắc.
Mạc Đăng Doanh mất, chỗ dựa của Nguyễn Bỉnh Khiêm mất theo. Bọn tham quan bòn rút quốc khố, vơ vét của dân vui ra mặt. Chơi vơi giữa triều đình, Nguyễn Bỉnh Khiêm còn một hy vọng mong manh. Đó là Mạc Đăng Dung ngày đêm giúp vua cháu Hiến Tông Mạc Phúc Hải phát triển tài năng, đủ bản lĩnh xoay chuyển tình thế, ổn định tình hình yên nước yên dân. Đánh đùng một cái, Mạc Đăng Dung băng vào năm Tân Sửu - 1541. Hiến Tông tuổi trẻ non tài, không đủ bản lĩnh khống chế các phe phái. Gian thần, quan tham nhung nhúc. Lê Bá Ly dưới trướng Mạc Đăng Dung từ thời Lê càng khoa trương thế lực. Mạc Chính Trung nhòm ngó ngôi báu. Cố gắng cuối cùng của nhất triều Tiến sĩ dành cho triều Mạc là dâng sớ xin vua trị tội 18 nịnh thần tham lam làm nghiêng xã tắc. Hiến Tông có đâu bản lĩnh làm theo tinh thần bản sớ của ông. Bọn gian thần hả hê khi bản sớ bị xếp lại. Chẳng những thế, chúng còn coi ông là cái gai nguy hiểm cần phải loại bỏ ngay.

Triều đình quan không ra quan, chức tước càng to càng ra sức vơ vét. Vua không xứng vua, trước tham quan nịnh thần thì lẳng lặng cho qua. Không bao lâu nữa, cuộc binh đao cốt nhục tương tàn Lê, Mạc diễn ra. Học trò của ông kẻ theo Lê, người theo Mạc. Họ chém giết nhau. Là thầy, ông chỉ biết giương mắt nhìn! Ở không làm được gì mà chắc chắn chuốc họa, Ức Trai rơi đầu còn sờ sờ ra đó. Tri âm đã mất, người đàn sớm phải buông cầm. Trạng nguyên Đông các đại học sĩ ngậm ngùi cáo quan quy điền. Đền ơn thầy, vua Mạc phong cho quan Lại bộ thị lang tước Trình Tuyền hầu khi ngài rời triều vào năm Nhâm Dần - 1542.

 *
Dù đã quy điền, Trạng vẫn chỉ đường cho ba thế lực phong kiến khi họ trân trọng khả năng tiên tri viễn tuệ của ngài. Với Nguyễn Hoàng, ngài dạy: Dải Hoành Sơn là đất dung thân lâu dài. Với Trịnh Tùng, ngài chỉ bảo: Tìm giống cũ mà gieo, coi chùa thắp hương ăn oản. Với nhà Mạc khi thất thế, ngài khuyên: Đất Cao Bằng tuy nhỏ cũng có thể ở được vài đời. Các thế lực phong kiến đều tôn Trạng nguyên họ Nguyễn làm thầy.

Thế kỷ XVI, mọi tên tuổi có thể mờ đi nhưng nhất triều Tiến sĩ khoa Ất Mùi - 1535 là Nguyễn Bỉnh Khiêm lại hiển hiện như tinh tú chiếu tới muôn sau.

Năm Nhâm Tuất - 1442. Nguyễn Trãi rơi đầu.

Năm Nhâm Dần - 1542, Nguyễn Bỉnh Khiêm bùi ngùi cáo quan.

Đây là bi kịch của những đại trí thức không có môi trường trong lành để thể hiện tài đức làm lớn giang sơn. Với tài năng kiệt xuất và nhân cách ngời ngời, Trạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm cõi sống trên chúa trên vua.
 

Phạm Thái Quỳnh
 

Nguồn: http://www.vannghenamdinh.com/
Sưu tầm: Nhữ Đình Văn

Chú thích:
(*) Đây là tác phẩm văn học (truyện ngắn), việc cảm thụ và đánh giá tác phẩm luôn được đặt trong góc độ văn học (chú thích này của http://www.honhuvietnam.com/ ).
1.
Nhữ Văn Lan đỗ Tiến sĩ năm Quý Mùi - 1463, làm Thượng thư bộ Hộ triều Lê Thánh Tông. Ông được vua rất nể trọng.
2.
Cửu tích: Chín thứ vua ban gồm: xe ngựa, y phục, đồ nhạc, cửa sơn son, nạp bệ, hổ bôn, cung tên, phủ việc, rượu cự xưởng (rượu quý).
3.
Trang 182, quyển III, ĐVSKTT, NXB VHTT năm 2003.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

GIới thiệu

BÀI 2: Tài trợ, đóng góp cho hoạt động của Hội đồng Dòng họ Nhữ Việt Nam

 > BÀI 1: TRANG TT  ĐT HỌ NHỮ VIỆT NAM      Để tạo điều kiện cho các hoạt động của Hội đồng dòng họ Nhữ Việt Nam trong các năm 2010, 2011, quí I năm 2012. Hội đồng dòng họ Nhữ Việt Nam đã nhận được sự tài trợ, đóng góp của các cá nhân,...

Đăng Nhập

Bài viết mới nhất

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HỌ NHỮ VIỆT NAM
www.honhuvietnam.com      E-mail: honhuvietnam@gmail.com

Hotline:                                Fax : +84 4 3 863 1091