02:53 EDT Thứ bảy, 22/09/2018

Danh mục bài viết

Gủi bài viết

Các bài viết

Trang nhất » Bài viết » Thông tin họ bạn

Vương Triều Mạc (1527 - 1592)

Thứ bảy - 10/03/2012 06:24

Khu tưởng niệm Vương Triều nhà Mạc tại Cổ Trai -Ngũ Đoan - Kiến Thụy - Hải Phòng
Mạc Đăng Dung (1527 - 1529) :
Mạc Đăng Dung quê ở làng Cổ Trai, huyện Nghi Dương (Hải Dương). Cụ tổ bảy đời là Mạc Đỉnh Chi, một người nổi tiếng về văn chương đã thi đậu trạng nguyên dưới thời Trần, làm quan đến chức Nhập nội hành khiển, Thượng thư môn hạ tả bộc xạ. Ông đã từng đi sứ sang Trung Quốc, đối đáp rất thông minh, nhà Nguyên phải nể phục. Đĩnh Chi sinh ra Dao, làm quan Tư hình viện đại phu...
Dao sinh 4 con trai tên là: Địch, Thoan, Thúy và Viễn, người nào cũng có tài năng và sức khỏe. Cuối đời nhà Hồ vì bất đắc chí họ đem con em đến hàng giặc Minh rồi ra làm quan cho nhà Minh. Đến đời các ông Tung, Bình rồi đến Hịch thì không có ai hiển đạt. Hịch lấy con gái Đặng Xuân người cùng làng, tên là Đặng Thị Hiến, sinh được ba trai: Mạc Đăng Dung là trưởng, rồi đến Đốc và Quyết. Hai em của Đăng Dung đều làm quan, khi Đăng Dung lên ngôi vua thì phong cả hai em tước vương. Đăng Dung sinh giờ Ngọ, ngày Nhâm Tý (23) tháng 11 năm Quý Mão (1483).


Thái tổ Mạc Đăng Dung tại Từ đường Cổ Trai - Hải Phòng. Ảnh sưu tầm

Thời trẻ Mạc Đăng Dung có sức khoẻ lại khôi ngô.
Tương truyền bà họ Nhữ là con gái quan thượng thư Nhữ Văn Lan (có tham vọng kén chồng để sinh ra đế vương). Một lần bà xin phép nhà chồng về thăm quê nhà, khi ấy đã mang thai Nguyễn Bỉnh Khiêm dược dăm tháng, phải qua đò Hàn trên sông Tuyết. Buổi sáng sớm, sương mù lan toả trên mặt sông. Khi con đò vừa cặp bến thì bà gặp một người thanh niên, trông chừng còn ít tuổi. Nhìn thấy chàng trai khôi ngô tuấn tú, phong thái chững chạc đàng hoàng, bà thấy bồn chồn và bảo người nhà cùng quay trở lại. Khi đã cùng ngồi trên thuyền, bà ngắm chàng trai đê mê như bị thôi miên bất giác thốt lên: “Lúc trẻ chẳng gặp nhau, ngày nay đến đây làm gì” ? Đến lúc lên bờ chàng trai nói nhỏ “Nếu nàng dám đi đến chân trời góc bể, ta sẽ đón theo”. Bỗng cái thai trong bụng cựa quậy, đạp nhoi nhói trong bụng. Bà họ Nhữ cúi đầu, môi mím chặt, nước mắt giàn giụa rồi cứ ngược theo bờ sông đi về nhà. Mấy người nhà đi theo xúm lại gây sự gây sự đánh mắng chàng trai trẻ tuổi. Khi về nhà bà hỏi ra mới biêt chàng trai trẻ tuổi đó là Mạc Dũng Dung, mới dự một cuộc thi võ trên kinh mới về. Bà nghe vậy thêm âu sầu, đổ bệnh ốm nửa tuần trăng.
Từ một thanh niên nghèo, sống bằng nghề đánh cá, Mạc Đăng Dung đi dự thi môn đấu vật, trúng đô lực sĩ, được sung vào chân túc vệ chuyên cầm dù theo xe vua. Nhưng Đăng Dung tiến rất nhanh trên đường làm quan. Năm Tân Mùi (1511) mới 29 tuổi đã được phong tước Vũ Xuyên bá. Năm Bính Tý (1516), triều đình sai Đăng Dung làm trấn thủ Sơn Nam, gia phong Phó tướng Tả đô đốc. Trải qua ba đời vua Lê, Đăng Dung được phong Thái sư Nhân Quốc công rồi đến An Hưng vương. Lợi dụng lúc vua Lê ươn hèn, các quan trong triều tranh giành xâu xé lẫn nhau, Mạc Đăng Dung âm mưu giành ngôi vua. Tháng 6 năm Đinh Hợi (1527), Mạc Đăng Dung từ Cổ Trai lên kinh sư ép vua Lê nhường ngôi. Lúc này triều Lê đã quá mục nát, mất lòng dân nên số đông hướng về Mạc Đăng Dung đã ra đón Đăng Dung về kinh.
Trong tờ chiếu nhường ngôi của vua Lê (tất nhiên là do người của Mạc Đăng Dung viết) có nói lý do của việc nhường ngôi: Vua Lê hèn kém , đức mỏng, không gánh nổi ngôi trời. Mệnh trời và lòng người hướng về người có đức và người đó, trong thời điểm này, chỉ có Mạc Đăng Dung: "là người tư chất thông minh, đủ tài văn võ, bên ngoài đánh dẹp bốn phương đều phục, bên trong trị nước trăm họ yên vui, công đức lớn lao, trời người đều quy phục". Hôm tuyên đọc tờ chiếu nhường ngôi cũng là lúc Mạc Đăng Dung xưng Hoàng đế, ban lệnh đại xá thiên hạ, lấy niên hiệu mới như mọi ông vua khác lên ngôi.
Vua Lê bị giáng truất xuống làm cung vương, bị tống giam cùng với Thái hậu ở cung Tây Nội rồi bị giết chết. Những ngày sau, Đăng Dung ra ngự ở chính điện, tế trời đất ở đàn Nam Giao, dựng tôn miếu, lấy Hải dương làm Dương kinh, lập cung điện ở Cổ Trai, truy tôn ông tổ bảy đời là Mạc Đỉnh Chi làm "Kiến thủy Khâm minh văn hoàng đế". Mạc Đăng Dung muốn tỏ một điều: "không thể cứ con vua thì mới được làm vua", ông cho sửa mộ của cha mình thành Lăng (cho nên nơi ấy về sau gọi là xứ Mả Lăng). Ông cho lập con trai trưởng là Đăng Doanh làm Thái tử, phong em trai là Quyết làm Tín vương, truy phong em trai là Đốc làm Từ vương, cả ba người em gái đều được phong công chúa; em gái lớn tên Ngọc là Trang Hoa công chúa, thứ đến tên Huệ là Khánh Diệm công chúa và em út Ngọc Di là Tú Hoa công chúa. Cùng với việc phong tước cho con, anh em họ Mạc, vua còn phong tước cho một loạt bầy tôi có công tôn phò.

Thành nhà Mạc ở Tuyên Quang - Ảnh sưu tầm
 

Về đối ngoại, để tranh thủ nhà Minh, vua Mạc sai sứ đem biểu sang Yên Kinh nói: Con cháu họ Lê không còn ai thừa tự, cho nên di chúc cho Đại thần họ Mạc tạm quản việc nước để yên dân. Nhà Minh sai người sang dò xét hư thực, Đăng Dung cùng các bầy tôi khác dùng vàng bạc lo lót những viên tướng biên thùy nhà Minh để tranh thủ sự ủng hộ của họ. Vì thế năm Kỷ Sửu (1529) hai anh em Trịnh Ngung và Trịnh Ngang là cựu thần nhà Lê chạy sang cầu viện nhà Minh song không thành. Hai viên quan đó đều chết già trên đất Trung Hoa. Hoàn thiện việc thiết lập một triều đại mới, không những chống chọi với phảứng của đông đảo các cựu thần nhà Lê mang nặng đầu óc trung quân mù quáng, mà còn phải chọn những người trẻ tuổi gánh vác việc nước.
Bắt chước các vua Trần, tháng 12 Kỷ Sửu (1529) Mạc Đăng Dung nhường ngôi cho con là Đăng Doanh, làm vua được 3 năm, lúc này mới 46 tuổi.

Mạc Đăng Doanh (1530 - 1540)
Đăng Doanh là con trưởng của Mạc Đăng Dung. Dưới thời Quang Thiệu nhà Lê, Đăng Doanh được phong tước Dục Mỹ hầu, giữ điện Kim Quang. Khi Đăng Dung lên ngôi vua, Đăng Doanh được phong làm Thái tử. ở ngôi Thái tử được 3 năm thì lên ngôi vua. Tháng Giêng năm Canh Dần (1530) Đăng Doanh làm lễ đăng quang, đổi niên hiệu là Đại chính, tôn bà nội là Đặng thị làm Thái hoàng Thái hậu, tôn cha là Đăng Dung làm Thái thượng hoàng. Trước hết Đăng Doanh dựng một ngôi điện thật nguy nga ở làng Cổ Trai cho Đăng Dung ở. Mỗi tháng hai lần vào ngày 8 và 22, Đăng Doanh dẫn quần thần tới trình yết. Đăng Dung tuy về sống cảnh điền viên ở Cổ Trai nhưng ngụ ý trấn giữ một vùng đất quan trọng làm ngoại viện cho Đăng Doanh và vẫn định đoạt những việc trọng đại của quốc gia.
Từ khi Đăng Doanh lên ngôi vua cũng là lúc ở Thanh Hóa lực lượng trung hưng của nhà Lê do Nguyễn Kim cầm đầu đã nhóm họp và ngày càng lớn mạnh. Đăng Doanh nhiều lần trực tiếp cầm quân vào đánh, nhưng không thắng nổi. Quân Lê triều do Nguyễn Kim chỉ huy dựa vào vùng rừng núi Thanh Hóa giáp với Lào để cố giữ và nuôi dưỡng lực lượng. Mùa xuân năm Quý Tỵ (1533) các cựu thần nhà Lê lập Lê Trang Tông lên ngôi vua tại Lào rồi sai sứ vượt biển sang nhà Minh cầu viện. Nhà Minh đưa quân sang đánh nhà Mạc. Trước tình hình đó, Mạc Đăng Dung liền sai người mang thư tới Vân Nam giải thích lý do nhà Mạc lên ngôi vua và bảo Lê Ninh chỉ là con của Nguyễn Kim mạo xưng họ Lê mà thôi.
Thấy rõ đây là một cơ hội tiến đánh Đại Việt. Vua Minh sai tướng Cừu Loan đem một đội quân lớn áp sát biên giới phía Bắc nước ta. Như vậy, nhà Mạc rơi vào thế bị ép từ hai mặt: Bắc là nhà Minh và Nam là nhà Lê.
Tuy nhiên, trong 10 năm cầm quyền của Đăng Doanh, triều Mạc đã làm được khá nhiều việc mà sử nhà Lê sau này cũng ghi nhận. Đó là việc rất đều đặn cứ 3 năm một lần tổ chức các kỳ thi hội, thi đình để tuyển chọn nhân tài. Dưới triều Mạc nhiều trí thức có danh tiếng đã ra thi đỗ đạt cao như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Giác Hải, Nguyễn Thiến... Thời Mạc Đăng Doanh trị vì ít nhất có 10 năm đất nước khá bình yên: phía Bắc nhà Minh cũng chỉ có ý đe dọa, phía Nam quân đội trung hưng nhà Lê chưa đủ mạnh để đem quân ra Bắc. Để dẹp bọn trộm cướp, Đăng Doanh đưa ra một kế sách hay, vua ra lệnh cấm dân chúng các xứ không được mang gươm giáo, dao nhọn và các đồ binh khí đi ngoài đường. Nếu kẻ nào trái lệnh cho pháp ty bắt trị tội. Từ đấy, những người đi buôn bán chỉ đi tay không, không phải đem khí giới tự vệ. Trong khoảng mấy năm luôn thêm được mùa, trộm cắp biệt tăm, súc vật chăn nuôi tối đến không phải dồn vào chuồng, cứ mỗi tháng kiểm một lần, dân bốn trấn đều được yên ổn.
Đăng Doanh chỉ làm vua được 10 năm thì mất. Người kế nghiệp Đăng Doanh là Mạc Phúc Hải. Đăng Doanh có 7 con trai, ngoài Phúc Hải được nối ngôi còn con thứ hai là Phúc Tư, phong là Ninh Vương, thứ 3 là Kính Điển, phong Khiêm vương, thứ 4 là Lý Tường, thứ 5 là Lý Hòa, thứ 6 là Hiệp Cung và thứ 7 là Đôn Nhượng phong ứng vương. Phúc Hải khi lên ngôi đặt tên thụy cho cha là Thất Tông khâm triết hoàng đế.

Mạc Phúc Hải (1541 - 1546)
Cuối đời Mạc Đăng Doanh, quan hệ với nhà Minh lại trở nên căng thẳng. Tình hình ở phía Nam cũng nguy cấp: quân đội Lê trung hưng sau 7 năm chiêu binh luyện mã đã đủ sức về đánh chiếm Nghệ An và hai năm sau năm Quí Mão (1543) đã kiểm soát được cả Tây Đô (Thanh Hóa). Mạc Đăng Dung phải trở lại Đông Kinh đưa cháu nội là Mạc Phúc Hải lên nối ngôi năm Tân Sửu (1541). Lúc này, ở Trung Quốc, Minh Thế Tông đem việc Nam chinh ra luận bàn, rất nhiều quan lại nhà Minh dâng sớ can vua nên mềm dẻo mà giải quyết việc biên giới phía Nam, rút bài học thất bại của các đời vua trước. Bộ thị lang Đường Trụ dâng sớ trình bày 7 điều không nên đánh An Nam, cho rằng các thời vua trước chưa bao giờ thắng lợi ở An Nam kể từ Mã Viện đến Minh Thái Tông... Thị lang Phan Trân lại nói: "Mạc Đăng Dung cướp ngôi Lê cũng như Lê cướp ngôi Trần vậy; nếu Đăng Dung chịu dâng biểu nộp cống thì coi như được vậy". Vua Thế Tông nhà Minh và lũ triều thần bàn đi bàn lại hàng tháng trời, rút cục là vần muốn nối chí Minh Thành Tổ chiếm nước Nam làm quận huyện như trước. Vua Minh cử Cừu Loan làm đô đốc, Mao Bá Ôn làm tham tán quân vụ phụ trách việc đánh dẹp; Hồ Liên, Hộ thị lang và Cao Công Thiều đi đốc thúc quân lương ở các tỉnh Vân Nam, Quảng Đông, Quảng Tây. Quân xâm lược đang ngấp nghé ở biên thùy phía Bắc. Nguy cơ một cuộc chiến tranh rất bất lợi cho nhà Mạc là có thật. Nhưng Mạc Đăng Dung cũng biết được nội bộ nhà Minh không nhất trí trong việc đánh An Nam. Qua viên tướng giữ Châu Liêm là Trương Nhạc, vua Mạc biết là có thể thoát ra khỏi cuộc chiến tranh bằng giải pháp hòa bình. Các tham chính nhà Minh đòi Mạc Đăng Dung phải đích thân đến của quân, nộp đất dựng mốc, bỏ đế hiệu đã tiếm xưng và theo chính sóc và niên lịch của nhà Minh. Đó cũng là cái cớ để cho Cừu Loan và Mao Bá Ôn vốn ngại chinh chiến xuống phương Nam bãi binh. Rút bài học từ cha con họ Hồ, Mạc Đăng Dung lúc này tuy đã nhường ngôi cho con tiếp theo là cháu, trở về sống cảnh điền viên ở Cổ Trai, vẫn phải chấp nhận yêu cầu trên: tự trói mình trước phủ quân Minh ở trấn Nam Quan, trả lại 4 động, xin nội phụ...
Ông già Mạc Đăng Dung dù lòng không muốn vẫn phải gắng sức cuối cùng chịu khổ nhục để con cháu ông tránh một cuộc chiến tranh khốc liệt mà chắc chắn là tốn rất nhiều năm xương máu của hai bên. Sau sự kiện quá sức đó, trở về Cổ Trai sống những ngày còn lại, chẳng bao lâu thì Mạc Đăng Dung mất, đó là một ngày thu tháng 8 năm Tân Sửu (1541).
Như vậy, Mạc Đăng Dung làm vua 3 năm, làm Thái thượng hoàng 12 năm, thọ 59 tuổi. Ông có để lại di chúc không làm đàn chay cúng phật, khuyên Phúc Hải phải nhanh chóng về kinh sư để trấn an nhân tâm và xã tắc là trọng. Tháng 10 năm ấy Mao Bá Ôn về đến Yên Kinh tâu với vua Minh việc Mạc Đăng Dung đã tự trói mình dâng lễ hàng ở cửa ải, xin tuân theo chính sóc...
Nếu xem Mạc Đăng Dung là kẻ có tội đầu hàng mà chưa có thể khinh suất cho tước và đất, thì hãy mong tha tội cho cháu là Phúc Hải... Còn như Lê Ninh tuy tự xưng là con cháu nhà Lê nhưng tung tích chưa rõ ràng... Thế là tháng 3 năm Nhâm Dần (1542) Mạc Đăng Dung làm An Nam đô thống sứ ty và một quả ấn bạc và cũng tháng 12 năm đó (1542) Mạc Phúc Hải làm trấn Nam Quan hội khám và nhận lịch đại thống của nhà Minh, một tờ đạo sắc phong nhà Minh lại phong cho Mạc Phúc Hải được tập tước của ông làm An Nam đô thống sứ ty. Thời Mạc Phúc Hải, theo lời bàn của thiếu sư Mạc Ninh Bang đã tiến hành việc chia cấp lộc điền, đặc biệt ưu tiên binh sĩ- một lực lượng quân sự to lớn được nuôi dưỡng để chống lại Nam Triều. Trong khi đó tại Nam triều, quân binh do Lê Trang Tông tự làm tướng đã kéo ra Yên Mô (Ninh Bình), Thái sư Hưng Quốc công Nguyễn Kim bị đánh thuốc độc chết đột ngột, quyền hành lọt vào tay con rể Nguyễn Kim là Trịnh Kiểm. Lực lượng phía Nam Triều ngày càng được củng cố. Mạc Phúc Hải lại thường say mê hát xướng, thích chơi chọi gà, ít quan tâm đến triều chính, mọi mặt giảm sút. Song Phúc Hải làm vua không lâu. Ngày 8 tháng 5 năm Bính Ngọ (1546) Phúc Hải chết, ở ngôi 6 năm, về sau truy tôn là Hiến Tông Hiển hoàng đế.

Mạc Phúc Nguyên (1546 - 1561)
Phúc Nguyên là con trưởng của Phúc Hải, nối ngôi vào tháng 5 năm Bính Ngọ (1546). Vì vua mới nối ngôi còn nhỏ tuổi nên mọi công việc triều chính do người chú là Khiêm vương Mạc Kính Điển quyết đoán. Nhưng triều Mạc đến đây đã bắt đầu lục đục. Nguyên do khi Phúc Hải mất, tướng nhà Mạc là Phạm Tử Nghi mưu lập Hoàng vương Chính Trung (là con thứ của Đăng Dung) lên làm vua, việc không thành, Mạc Phúc Nguyên sai Kính Điển và Nguễn Kính đem quân đi bắt Chính Trung dời về xã Hoa Dương (xã Trác Dương, Hương Nhân, Thái Bình), nhưng bị Tử Nghi đánh thua. Sau vì thế cô Tử Nghi đem Chính Trung ra chiếm cứ miền Yên Quảng rồi trốn vào đất Minh, thả quân đi bắt người cướp của ở Quảng Đông, Quảng Tây, người Minh không thể kiềm chế được. Sau họ phải thu xếp cho Chính Trung an cư ở xứ Thanh Viễn, hàng năm cấp phát lương thực. Vì lục đục nội bộ, Chính Trung ở đất Minh đem việc Nguyễn Kính chuyên quyền tâu lên Viện đốc phủ nhà Minh. Nhà Minh ngờ Phúc Nguyên không phải là dòng dõi nhà Mạc, đưa thư đòi khám xét. Vừa mới dẹp xong dư đảng của Tử Nghi ở Hải Dương, Mạc Kính Điển và Lê Bá Ly phải hộ tống Mạc Phúc Nguyên lên cửa Trấn Nam, dùng mọi lời lẽ thuyết phục, được quan chức Lưỡng Quảng bằng lòng phong cho tập tước, đó là năm Kỷ Dậu (1549)...
Sau sự kiện ấy có người dâng sớ khuyên Mạc Phúc Nguyên phải biết tự mình trông coi chính sự vì đã lớn tuổi rồi. Dù vậy, Phúc Nguyên không đủ sức điều hành việc nước, phải nhờ cậy vào Lê Bá Ly. Năm Kỷ Dậu (1549), vua Mạc phong cho Lê Bá Ly làm Thái tể, Phụng Quốc công, từ đó Bá Ly trở thành người nắm giữ binh quyền và triều chính, uy thế ngày một lớn, anh em trong nhà Bá Ly đều đảm nhiệm nhiều trọng trách lớn của triều đình. Và mâu thuẫn giữa các triều thần lại nổi lên: Phạm Quỳnh, Phạm Dao, cả hai cha con trước kia là tôi tớ Lê Bá Ly nay có chút vinh hiển lại ghen tức dèm pha. Mạc Phúc Nguyên đã tin theo Phạm Quỳnh, và thế là cha con Lê Bá Ly đem bộ tướng và quân gia hơn 1 vạn 4 nghìn người trốn vào Thanh Hóa xin hàng vua Lê. Từ đó mưu thần mãnh tướng bỏ nhà Mạc chạy theo Lê. Thanh thế quân Trung Hưng ngày càng trở nên mạnh mẽ. Mạc Phúc Nguyên thấy vậy lấy làm lo sợ, trao hết binh quyền cho chú là Mạc Kính Điển, tự mình rút về bảo vệ xứ miền Đông. Tháng 7 năm Đinh Tỵ, Mạc Phúc Nguyên sai Kính Điển đem quân vào đánh Thanh Hóa; Phạm Quỳnh, Phạm Dao đánh Nghệ An. Quân Mạc thua to. Mạc Kính Điển phải liều nhảy xống sông, bơi vào ẩn nấp tại hang núi nhịn đói chịu khát suốt 3 ngày, may gặp được một ngời đánh cá cứu sống. Thừa thắng, quân Lê- Trịnh huy động hơn 5 vạn quân thủy bộ tổ chức cuộc tấn công ra Sơn Nam, nhưng bị thua, quân Trịnh tan vỡ, bỏ thuyền chạy bộ. Quân Mạc lại sai tướng chẹn lối về, quân Lê- Trịnh chết hơn quá nửa, hàng chục viên tướng bị giết, thuyền bè khí giới bỏ lại vô kể. Đến năm Kỷ Mùi (1559) quân Lê - Trịnh lại mở cuộc tấn công ra Bắc, đánh phá các tỉnh hậu phương của Mạc như Sơn Tây, Tuyên Quang, Hưng Hóa, Kinh Bắc, Hải Dương... Mạc Phúc Nguyên phải rút vào phòng thủ, bên ngoài thành Thăng Long đóng đồn trại dọc phía Tây sông Nhị, dinh trại liên tiếp, thuyền bè nối nhau; ngày thì gióng trống báo tin, đêm thì đốt lửa làm hiệu. Bị quân Trịnh đánh trực tiếp vào các huyện Đông Triều, Giáp Sơn, Chí Linh, quân Mạc phải ra huyện Thanh Trì. Tháng 12 năm Tân Dậu (1561), giữa lúc cuộc chiến Trịnh- Mạc đang gay go quyết liệt nhất thì Mạc Phúc Nguyên chết vì bệnh đậu mùa. Ông vua Mạc trẻ này ở ngôi được 18 năm.

Mạc Mậu Hợp (1562 - 1592)
Mạc Mậu Hợp là con cả của Phúc Nguyên, sinh năm Nhâm Tuất (1562). Khi lên ngôi mới 2 tuổi phải lấy ứng vương Mạc Đôn Nhượng (con trai Mạc Đăng Doanh) làm phụ chính. Năm ấy (1562), họ Mạc ngờ Thái bảo Văn Quốc công Phạm Dao có lòng khác bèn giết đi. Năm Giáp Tý (1564), con trưởng của Mạc Kính Điển là Đoan Hùng vương Mạc Kính Chỉ ngầm tư thông với mẹ kế, việc bại lộ, phải giáng xuống làm thứ nhân. Mạc Kính Điển cho lấy con thứ là Mạc Kính Phu làm Đường An vương, giao giữ việc binh. Đến khi Kính Điển chết, vua Mạc lại cho Kính Chỉ phục lên tước Công, nhưng không cho giữ binh quyền.
Năm Bính Dần (1566) Mạc Mậu Hợp dời về ở quán Bồ Đề, sai Lại bộ thượng thư kiêm Đông các đại học sĩ Giáp Hải và Đông các hiệu thư Phạm Duy Quyết lên địa đầu Lạng Sơn đón sứ thần Lê Quang Bí về nước. Nguyên là vào năm Mậu Thân (1548) Quang Bí được cử đi sứ lo việc cống tiến hàng năm. Ông đến Nam Ninh, bị người nhà Minh ngờ là quan giả mạo, bắt phải chờ để tra xét thực hư. Nhưng rồi Quang Bí cứ phải lưu tại sứ quán chờ minh xét. Bấy giờ Phúc Nguyên mấy năm liền bỏ việc cống nên không dám tâu xin. Đến năm Quí Hợi (1563) viên quan ở Lưỡng Quảng mới sai người đưa Quang Bí 25 lạng bạc để thưởng công lao và tiếp tục cuộc hành trình của sứ bộ. Khi Quang Bí tới Bắc Kinh lại bị lưu giữ chờ đợi ở sứ quán. Mặc dù chờ đợi rất lâu nhưng Quang Bí vẫn kính cẩn giữ mệnh chúa, không tỏ ra bực tức. Thấy vậy viện Đại học sĩ nhà Minh là Lý Xuân Phương vừa nể phục vừa thương tình mới tâu vua Minh cho dâng nộp lễ phẩm và cho Quang Bí về nước. Cuộc đi sứ của Quang Bí chiếm kỷ lục về thời gian đi sứ trong lịch sử ngoại giao nước Nam, cả đi về và chờ đợi hết 18 năm. Lúc ra đi tóc mây xanh mướt, khi trở về râu tóc bạc phơ ! Người nhà Minh ví ông như Tô Vũ xưa đi sứ sang Hung nô! Khi về đến Đông Kinh, Bí được phong Tô Quận công. Tháng 10 năm Quí Dậu (1573), Mạc Mậu Hợp mới 12 tuổi, từ bến Bồ Đề qua sông vào Đông Kinh, đắp thành ở bên ngoài cửa Nam, dựng một ngôi điện bằng tranh tre để ở.
Thế rồi năm Đinh Sửu (1577), Mạc Mậu Hợp 16 tuổi, lấy con gái của Cẩm y thư vệ sự Phú Sơn hầu Vũ Văn Khuê là nàng Vũ Thị Hoành làm vợ, lập làm Chính phi. Vào thời điểm này, ở phía Nam triều, Trịnh Kiểm đã chết, binh quyền vào tay Trịnh Tùng. Vua Lê và Trịnh Tùng sống với nhau khá hoà thuận, chính sự được chỉnh đốn, quân sĩ tinh tráng khỏe mạnh, khí thế đang lên còn phía Bắc triều, sau khi vào Đông Kinh, Mạc Mậu Hợp ham chơi bời, say đắm tửu sắc, không để ý gì đến việc nước. Rất nhiều sớ của các quan khuyên răn Mạc Mậu Hợp bớt dâm dục chơi bời, nhưng vô hiệu. Ngày 21 tháng 2 năm Mậu Dần (1578), Mạc Mậu Hợp bị sét đánh vào cung, liệt nửa người, chữa mãi mới khỏi. Lúc này rất nhiều người trước kia hy vọng những gì tốt đẹp ở vương triều mới, đã ra thi thố tài năng giúp việc, đều chán nản, muốn rút về ở ẩn. Thấy Giáp Trừng là người hết lòng, Mạc Mậu Hợp phong chức Thượng thư lại bộ Luân Quận Công. Ông kiên quyết từ chối... nhưng Mạc Mậu Hợp không chấp nhận. Tháng 10 năm Canh Thìn (1580), Mạc Kính Điển, người có uy quyền danh vọng và là trụ cột của triều đình Mạc qua đời, lòng người hoang mang. Chính quyền của Mạc Mậu Hợp bắt đầu bộc lộ những căn bệnh hiểm nghèo, khó bề tránh khỏi bại vong: quan lại hèn nhát, cơ hội và vô trách nhiệm chỉ ham đục khoét làm giàu. Triều thần thì không hiến được kế sách gì để chống lại địch. ứng vương Mạc Đôn Nhượng giữ quyền phụ chính quyết định mọi việc nhưng lại thường về sống ở Dương kinh, vì thế việc triều bê bối không ai quyết đoán. Các quan có việc đến yết kiến bẩm báo, vua không giải quyết nổi. Còn quan phụ chính thì khó gặp. Từ đó triều thần trễ nãi, không tới công đường, tránh né không chịu bàn việc. Hàng đống sơ tấu tâm huyết gửi lên khuyên Mạc Mậu Hợp thay đổi chính sự, song vô hiệu.
Năm Tân Tỵ (1581), Mạc Mậu Hợp lại bị chứng bệnh "thong manh" mắt mờ không rõ, sau chữa mãi mới khỏi. Khỏi bệnh, Mậu Hợp lại lao ngay vào ăn chơi. Năm Nhâm Ngọ (1582), Mậu Hợp cho dựng một ngôi điện, gọi là điện Giảng học, danh nghĩa là vậy thực ra đó là nơi yến tiệc, chơi bời. Ngôi điện làm xong thì một buổi tối bị hỏa hoạn cháy trụi.
Năm Đinh Dậu (1585), Mạc Mậu Hợp vào ở hẳn trong kinh thành Thăng Long, sai tu sửa kinh thành, xây dựng lại với quy mô lớn, công việc xây dựng rất khẩn trương (xong trong 1 năm). Vào thành, Mậu Hợp chỉnh đốn xe ngựa, mở triều ban văn võ... thăng Giáp Trừng, Mạc Ngọc Liễn và Nguyễn Quyện lên các chức vị cao sang nhất nhưng họ viện lý do từ chối hoặc xin nghỉ việc. Ngay cả ông chú của Mạc Mậu Hợp là Mạc Đôn Nhượng cũng xin giải nhiệm.
Năm Đinh Hợi (1587), Mạc Mậu Hợp lại một lần nữa tu bổ, gia cố thành Thăng Long và chỉnh trang đường phố. Hợp sai các xứ Tây (Sơn Tây) và xứ Nam (Sơn Nam) đắp lũy đất, trồng tre gai chạy tuốt từ sông Hát xuống đến sông Hoa Dinh dài chừng vài trăn dặm. Đây là công trình phòng ngự của Mạc Mậu Hợp. Sau đó theo lời khuyên của Giáp Trừng, vua Mạc còn cho đắp thêm 3 lũy đất ở bên ngoài thành Đại La từ Nhật Chiêu qua Tây Hồ và Cầu Dền đến tận bến Thanh Trì. Các lũy này cao hơn thành cũ Thăng Long vài trượng, rộng 25 trượng, 3 lần hào, cắm chông gai, bao vây ngoài thành. Nhiều việc trái luân thường đã xảy ra trong triều họ Mạc: Năm Canh Dần (1590) vợ Mạc Kỉnh Chỉ không chịu kém chồng, tư thông và ẩn trốn tại nhà Hoàng Quận công là tướng dưới quyền chồng mình. Việc vỡ lỡ, cả hai đều bị giết.

Chính sự triều đình Mạc Mậu Hợp ngày càng đổ nát, binh lực suy yếu, lòng người ly tán. Giữa lúc đó, quân đội Lê- Trịnh tấn công liên tiếp vào hậu cứ quân Mạc. Có lúc đã huy động lực lượng chống trả đến 10 vạn quân, nhưng nhà Mạc vẫn thua trận. Mạc Mậu Hợp lại bỏ kinh thành Thăng Long sang bến Bồ Đề, chia quân giữ phía Bắc sông Cái để tự vệ. Khốn đốn là vậy mà Mạc Mậu Hợp vẫn lao vào ăn chơi trác táng. Thấy Nguyễn Thị Niên, con gái của Nguyễn Quyện, vợ trấn thủ Nam đạo Sơn quận công Bùi Văn Khuê, em gái Hoàng hậu xinh đẹp, Mậu Hợp đem lòng yêu mến và muốn "mía ngọt ăn cả cụm", bèn ngầm tính kế giết Bùi Văn Khuê- một tướng tài thống lĩnh toàn bộ thủy quân của Mạc- để cướp vợ Khuê. Biết âm mưu ấy, vợ Văn Khuê mật báo cho chồng. Văn Khuê đem quân bản bộ về giữ hạt Gia Viễn, chống lại lệnh vua Mạc. Mạc Mậu Hợp mấy lần vời không được phải cho quân tướng đến hỏi tội Văn Khuê. Văn Khuê, một mặt đem quân chống giữ, mặt khác cho con là Bùi Văn Nguyên vào hàng quân Trịnh và cho quân cứu viện. Trịnh Tùng rất mừng, thu nhận ngay và cho quân ra cứu Văn Khuê. Thế là thủy quân, chỗ mạnh nhất của binh lực nhà Mạc do Bùi Văn Khuê nắm giữ đã lọt vào tay quân Trịnh. Trịnh Tùng được Văn Khuê giúp rập rõ ràng chiến thắng đã ở trong tay. Cái mà Trịnh Tùng thiếu là thủy quân, nay đã có Bùi Văn Khuê, Tùng liền mở một loạt nhiều đợt tấn công bằng đường thủy xuống vùng Kinh Dương của nhà Mạc. Ngày 25 tháng 11 năm Nhâm Thìn (1592), thủy quân Trịnh gồm 300 chiếc thuyền đánh vào huyện Kim Thành, Mạc Mậu Hợp bỏ chạy, quân Trịnh thu được rất nhiều vàng bạc của cải, đồ dùng và con gái, bắt Thái hậu nhà Mạc giải về Thăng Long. Tới sông Bồ Đề, Thái hậu nhà Mạc nhảy xuống sông tự vẫn. Mạc Mậu Hợp sợ đến mức phải trao hết quyền bính cho con trai là Toàn lên làm vua còn mình thì chạy trốn. Quân Trịnh thừa tắng phá tan quân của Mạc Kính Chỉ ở Tân Mỹ thuộc Thanh Hà, thu chiến thuyền và khí giới vô kể. Nhà cửa và các phủ Hạ Hồng, Nam Sách, Kinh Môn, lửa cháy rực trời, dư đảng của nhà Mạc kéo nhau đến doanh trại quân Trịnh xin hàng.
Mạc Mậu Hợp chạy trốn ở một ngôi chùa ở huyện Phượng Nhãn (Bắc Ninh). Quân Trịnh sục tới, dân địa phương cho biết Mậu Hợp đóng giả sư ông, đến ẩn ở chùa Mô Khuê đã 11 ngày. Quân sĩ đến chùa, thấy Mậu Hợp nghiễm nhiên ngồi xếp bằng, đang tụng kinh. Lính Trịnh gạn hỏi, Mậu Hợp giả bộ ấm ớ đáp: "Bần tăng tu hành từ hồi còn trẻ tuổi ở am mây này, chén muối dĩa rau hàng ngày trai dưỡng; thắp hương thờ phật, công đức chuyên làm". Quân sĩ thấy nhà sư ăn nói hoạt bát khéo léo, biết chắc là Mậu Hợp liền bắt giữ ngay. Mậu Hợp biết không thể thoát được liền thú thực: "Mấy ngày nay, tôi ẩn nấp trong rừng rậm, quá đói khát, dám xin một bình rượu uống cho đã". Quân sĩ cấp cho bình rượu. Uống xong, Mạc Mậu Hợp ngậm ngùi than rằng: "Nghiệp chướng quá sâu! Nay muốn làm một người dân thường, cũng không thể được. Tội lỗi chỉ vì tổ tiên đã làm sự giết vua cướp ngôi, đến nỗi con cháu ngày nay pphải mắc tội nặng như vậy. Mong tướng sĩ dẫn tôi đến trước hoàng đế, để bày tỏ thực tình. Đó là lòng tôi rất mong muốn". Quân Trịnh dùng voi chở Mạc Mậu Hợp và hai kỷ nữ giải về kinh sư. Sau đó, Mậu Hợp phải chịu treo sống ba ngày, xong chém đầu ở bãi cát Bồ Đề, thủ pháp hiến hoàng đế nhà Lê ở hành tại Vạn Lại xứ Thanh Hóa, bị đóng đinh đem bêu ngoài chợ.
Mạc Mậu Hợp lên ngôi lúc 2 tuổi, ở ngôi 29 năm, khi chết 31 tuổi. Con trai Mạc Mậu Hợp là Toàn, được Mậu Hợp nhường ngôi, tự xưng là Vũ An, nhưng không được nhân tâm ủng hộ, thế cô, ngầm trốn cũng bị quân Trịnh bắt được đem chém đầu tại bến Thảo Tân.
Như vậy là họ Mạc từ Đăng Dung đến Mậu Hợp, truyền ngôi được 5 đời thì mất, tổng cộng được 66 năm. Sau đó con cháu nhà Mạc rút lên Cao Bằng. Theo sấm Trạng Trình, họ Mạc còn kéo dài đến 96 năm nữa mới bị mất hẳn. Về sau con cháu nhà Mạc không xưng đế mà chỉ trấn thủ ở vùng núi phía Bắc thôi. Sử nhà Lê chép vào tháng 7 năm Giáp Ngọ (1594), Đà quốc công nhà Mạc là Mạc Ngọc Liễn trước khi qua đời để lại thư khuyên Mạc Kính Cung rằng: "Nay họ Mạc khí vận đã hết, họ Lê lại phục hưng, đó là số trời. Dân ta vô tội mà mắc nạn binh đao, sao lại nỡ thế. Bọn ta nên tránh ở nước khác, chứa nuôi uy sức, chịu khuất đợi thời, xem khi nào mệnh trời trở lại mới có thể làm được. Rất không nên lấy sức chọi sức, hai con hổ đánh nhau tất có một con bị thương, không được việc gì. Nếu thấy quân họ đến thì nên tránh, chớ có đánh nhau, cốt phải giữ cẩn là hơn. Lại chớ nên mời người Minh vào trong nước ta, để đến nỗi dân ta pghải chịu lầm than, đó cũng là tội không gì nặng bằng".

Đến năm Mậu Thìn (1688), những dư đảng cuối cùng của nhà Mạc mới bị triều đình Lê - Trịnh dẹp yên.

Các đời vua Mạc:
1. Mạc Đăng Dung 1527- 1529
2. Mạc Đăng Doanh 1530- 1540
3. Mạc Phú Hải 1541- 1546
4. Mạc Phúc Nguyên 1546- 1561
5. Mạc Mậu Hợp 1562- 1592

Sưu tầm: Nhữ Đình Văn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

GIới thiệu

BÀI 1: Trang thông tin điện tử HỌ NHỮ VIỆT NAM - Website www.honhuvietnam.com

>BÀI 2: TÀI TRỢ, ĐÓNG GÓP CHO HOẠT ĐỘNG CUẢ HỘI ĐỒNG DÒNG HỌ   Hà Nội, Ngày 01/03/2012 Kính chào các bạn đọc ! Trang Thông tin điện tử Họ Nhữ Việt Nam www.honhuvietnam.com, (.org) do Hội Đồng dòng họ Nhữ Việt Nam quản trị và điều hành. Việc xây dựng và phát triển...

Đăng Nhập

Bài viết mới nhất

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HỌ NHỮ VIỆT NAM
www.honhuvietnam.com      E-mail: honhuvietnam@gmail.com

Hotline:                                Fax : +84 4 3 863 1091