15:01 ICT Thứ ba, 07/12/2021

Danh mục bài viết

Gủi bài viết

Các bài viết

Trang nhất » Bài viết » Lịch sử, danh nhân...

VỀ SỰ NGHIỆP QUÂN SỰ CỦA TIẾN SĨ NHỮ ĐÌNH TOẢN

Thứ bảy - 15/05/2021 17:21
VỀ SỰ NGHIỆP QUÂN SỰ CỦA TIẾN SĨ NHỮ ĐÌNH TOẢN
 
PGS.TS. Nguyễn Thị Phương Chi[1]

Các nhà khoa học trình bày tham luận tại hội thảo
     Nhữ Đình Toản (1703-1773) người làng Hoạch Trạch, huyện Đường An, nay là huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, sinh ra và lớn lên trong gia đình có truyền thống đỗ đạt cao - Tiến sĩ và làm quan to, Ông nội là Tiến sĩ Nhữ Tiến Dũng đổ năm 1664, làm quan tới Cấp sự trung. Cha là Tiến sĩ Nhữ Đình Hiền đỗ năm 1680, làm quan đến chức Thượng thư Bộ Hình và Tham tụng. Con thứ tư của ông là Nhữ Công Chấn năm 22 tuổi đỗ Hoàng Giáp khoa Nhâm Thìn (1772), thi Hội, thi Đình đều đỗ thứ hai, là người ít tuổi và giỏi nhất khoa ấy, làm quan đến chức Hữu thị lang bộ Lễ[2].
     “Đình Toản tuổi trẻ thông minh, việc học hỏi sẵn nếp nhà. Năm 18 tuổi (1720) làm văn mắc lỗi, rồi vì đó được nổi tiếng. Năm 26 tuổi mới được đi thi, thi Hương đổ thứ hai, do tập ấm làm chức Tư thừa. Năm 33 tuổi, đỗ Hội nguyên tiến sĩ khoa Binh Thìn (1736) niên hiệu Vĩnh Hựu đời Lê Ý Tông. Đầu đời Cánh Hưng, do giữ chức Tự thừa làm đến Tham tụng”[3]. Đó là những dòng ghi chép của Phan Huy Chú, có thể thấy Nhữ Đình Toản sinh ra trong gia đình trí thức Nho học và có truyền thống khoa cử và làm quan. Bài viết này, làm rõ hơn sự nghiệp quân sự của Nhữ Đình Toàn trong cuộc đời và sự nghiệp của ông.
     Năm 1739, dưới thời vua Lê Hiển Tông - Chúa Trịnh Giang, nhất là sau khi chúa Trịnh Giang mắc bệnh kinh quý, tâm thần bất định, hay hoảng hốt, sợ hãi nên Hoàng Công Phụ, hoạn quan trong phủ chúa đã xây dựng cung Thường Tín dưới hầm cho Chúa ở. Từ đấy Chúa ở hắn trong cung Hoàng Công Phụ được thế lộng quyển, giết, phạt nhiều quan đại thần trong triều nên ai cũng lo sợ. Ở ngoài xã hội, trấn Hải Dương và Sơn Nam có nhiều cuộc nổi dậy, Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ ở Ninh Xá, Vũ Trác đánh ở Mộ Trạch; về mặt Sơn Nam, có Hoàng Công Chất; đảng lớn phe nhỏ, hết chỗ này đến chỗ khác, thúc giục nhau phiến động, chỗ nào cũng tự dấy quân, tự xung danh hiệu: Nguyễn Tuyển xưng Minh Chủ, Trác đánh xưng hiệu Minh Công, họ hội họp nhau ở xã Ninh Xá[4], đều mượn tiếng “phò Lê”. Dần ở vùng Đông vùng Nam, người đeo bửa, người vác gậy đi theo, cho nhiều có đến hơn vạn, chỗ nhỏ có hàng vạn hàng trăm, họ quấy rối cướp bóc làng xóm, vây đánh các ấp, các thành, triều đình không thể nào ngăn cấm được[5]. Đến năm 1741, Hoàng Nghĩa Bá, thổng lãnh trấn Hải Dương đã gần như đánh dẹp được Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ và Vũ Trác Oánh. Tuy nhiên, sau đó một bộ tướng của anh em Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ là Nguyễn Kình tập hợp tàn binh, mở rộng địa bàn hoạt động ở vùng Cẩm Giàng và Chỉ Linh. Đốc trấn Hải Dương là Trương Khuông cùng Nhữ Đình Toản đem quân đuổi đánh nhưng bị thua. Nhữ Đình Toàn bị Nguyễn Kình bắt được. Song do kính trọng Nhữ Đình Toản nên Nguyên Kình đối đãi với ông rất tử tế. Sau đó, nhờ vào tài chiêu dụ của Nhữ Đình Toản mà Nguyễn Kình đem quân đầu hàng. Đây có thể coi là từ thất bại lại thành công đầu tiên và mở đầu cho sự nghiệp quân sự của Nhữ Đình Toản.
      Ba tháng sau khi dẹp yên các cuộc nổi dậy ở trấn Hải Dương, tháng 5 - 1741, Nhữ Đình Toàn được triều đình bổ nhiệm chức Hiệp đồng trấn Hải Dương[6],
Tháng 6 - 1742, đang làm việc ở Hải Dương, triều đình lại cử ông đi lộ Sơn Nam Hạ để xét hỏi tình hình ở đó. Nguyên do, lúc bấy giờ những viên quan cai quản ở lộ Sơn Nam Hạ giữ chức Hiệp đồng là Phạm Hữu Du cùng với ông Đôn ngự sử (không rõ tên) nhận nhiệm vụ chiêu tập dân địa phương, tăng cường lực lượng cho quân triều đình trong việc chống lại các cuộc nổi dậy của nhân dân nhưng những viên quan này đã không hoàn thành nhiệm vụ mà còn hà khắc, nhũng nhiễu nhân dân. Nên Nhữ Đình Toản nhận nhiệm vụ đi kiểm tra tình hình ở đó. Tuy nhiên, kết quả công việc như thế nào thì không có một dòng tư liệu nào ghi chép trong Quốc sử.
     Tháng 2-1745, Nhữ Đình Toàn cùng Hà Tông Huân được gọi vào phủ chúa giao cho việc trọng yếu. Đây có thể coi là bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời ông. Vốn là người thông minh, tài giỏi, gặp lúc chính sự cũng như xã hội nhiều sóng gió, chúa rất cần những người có trình độ và tài đức giúp sức, Và, đúng như nhìn nhận của Chúa Trịnh Doanh, những bàn luận về việc quận việc nước của Nhữ Đình Toàn phần lớn đều đúng với ý chúa. Ông được thăng chức Thượng thư Bộ Binh và Tham tụng, tước Bá Trạch hầu. Sự kiện này được Phan Huy Chú chép: “Sai ông làm Thái phỏng sử ở Sơn Nam Hạ lộ được ít lâu chia triệu vào giao cho việc quẩn quốc trọng yếu. Ông cùng Hà Tông Huấn điều trần những việc nên làm bây giờ, rất xứng ý chúa được thăng Thượng thư Bộ Bình và Tham tụng, tước Bá Trạch hầu, giúp đỡ bên cạnh chúa, ngày càng được chia quyến chú”[7] .
     Cương mục cũng chép như sau: “Khởi phục Hà Huân và Nhữ Đình Toản cùng vào phủ chúa giữ chức Tham tụng [...]. Trịnh Doanh muốn cất nhắc những người bị chìm đắm lấy cớ rằng hai người này vốn có danh vọng được nhiều người mến phục, nhân đấy mới cất nhắc bổ dụng, cho cùng Trịnh Ngô Dụng, Tả thị lang bộ Lại, cùng được tham dự công việc chính phủ. Trịnh Doanh thường triệu hai người vào phủ hỏi chính sách lởm về việc quận việc nước, họ trình bày phần nhiều hợp ý Trịnh Doanh”[8].
     Lúc này, Nhữ Đình Toàn được vua biết mặt, chúa biết tên” và cũng từ đây, ông đã đem hết tài năng của mình cống hiến cho triều đình Lê - Trịnh. Do làm việc có hiệu quả nên ông được Chúa Trịnh Doanh quý mến, trọng đãi cho đổi tên là Công Toản. Phan Huy Chú chép: “Đầu đời Cảnh Hưng[9] do chức Tự khanh làm đến Tham tụng. Bấy giờ nhà nước nhiều việc, ông là người mới lên cùng hai vị cố lão cùng làm mọi việc. Ông được chúa Trịnh Doanh yêu mến trọng đãi, cho đổi tên là Công Toản”[10].
     Như chúng ta đã biết, nửa đầu thế kỷ XVIII, nhiều cuộc nổi dậy khởi nghĩa liên tiếp bùng nổ, uy hiếp nghiêm trọng đến an ninh của cung vua, phủ chúa. Triều đình phải đặt đồn lũy xung quanh kinh thành để đề phòng sự bao vây và bố trí canh phòng cẩn mật. Tình hình này được ghi chép trong Cương mục như sau: “Tháng 8 – 1748. Sai đại thân là Lê Hữu Kiều chia nhau giữ nơi hiểm yếu ở Kinh thành. Lúc ấy, giặc cỏ Sơn Nam chưa dẹp yên, mà bất thần giặc ở Sơn Tây lại tràn xuống. Nhận đấy, hạ lệnh cho bọn Lê Hữu Kiều, Hà Huân, Vũ Khâm Lân và Ngô Đình Oánh chia nhau giữ nơi xung yếu, ngày đêm tuần hành xem xét, dự định mua kế ngăn ngừa chống chọi. Bầy tôi trong chính phủ lại dâng kế phòng thủ, đại lược xin trồng tre, trồng cây để hàng rào ở doanh trại được vững bền; đặt tám của thành để xét hỏi người ra vào; chọn đinh tráng phường, ở trại và vệ binh gần kinh kỳ để sung vào việc tuần cảnh; thượng lưu và hạ lưu phường Nhật Chiêu đêu đặt đồn canh giữ; trong thành thì chia đặt các phòng cho quân sĩ. Trịnh Doanh nghe lời, vì thể chia trong kinh kỳ làm 36 khu, gồm làm 9 điện, mỗi điện 4 khu, đặt một người làm điện chánh. Sau đó, sai bọn nội giảm Nguyễn Phương Đĩnh và Nguyễn Đình Huấn chia nhau đi các huyện chung quanh kinh kỳ chọn làm định tráng, đặt đồn lũy, để phòng bị giặc cướp bao vây"[11]. Có lẽ trong những ý kiến hiến kế của bầy tôi trong phủ chúa như dòng tư liệu nêu trên thì một người được chúa tin cận như Nhữ Đình Toàn chắc là phải có vai trò quan trọng.
     Những trọng trấn xung quanh kinh thành, triều đình cũng tăng cường cắt cử người trấn giữ, Đoàn Xuân Vực trấn giữ Kinh Bắc vì lý do: “Trấn Kinh Bắc thế giặc lan tràn, phó tướng Nguyễn Trọng Thân xin cho thêm quân, Các quan trong chính phủ lấy cớ rằng Kinh Bắc là thành lũy của Kinh sư, thế mà mặt Đông có giặc Hoàng Công Chất, mặt Tây có giặc Nguyễn Danh Phương, hơn nữa ở Phương Nhãn và Bảo Lộc dân tình nhốn nháo nổi dậy, ba mặt có giặc xông pha như thế, cần phải phòng bị ngay (....) Trịnh Doanh bèn sai Xuân Vực trấn thủ Kinh Bắc, để làm thanh thế rộng ra đến Tây Bắc..."[12]. Định Văn Giai được giao làm trấn thủ Sơn Tây: “Sơn Tây là phên dậu của nước nhà, thế mà mặt Bắc gần Danh Phương, mặt Nam liền với Tương và Mật, thể giặc tràn lan, lòng người lo sợ. Vậy cho phép nhà người ở đây được tùy tiện làm việc, để ta đỡ lo nghĩ về mặt Tây”[13].
     Ở trong phủ chúa, ông bàn bạc, tham mưu cho Chúa việc quận việc nước, đến năm 1751, triều đình giao cho ông tham gia hiệu định quyển sách Bách quan chức chưởng (còn gọi là Bách tự chức chương). Nhữ Đình Toản còn tham khảo điền lệ các triệu trước soạn thảnh 9 điều để dạy cho tướng phủ. Đồng thời, ông xin với chúa cho khôi phục thể văn thời Hồng Đức “thi Hương, thi Hội đều dùng lổi văn bình dị, bỏ lối viết vụn vặt. Từ đấy lối văn thi cử mới thay đổi hết, những người học thức ai cũng khen”[14].
     Tiếc rằng Quốc sử ghi chép về Nhữ Đình Toản không nhiều, chỉ biết rằng, ông làm tướng hơn 10 năm “cốt giữ thể thống, ưa chuộng khoan hòa, rộng rãi. Thời bấy giờ khen là danh thần. Sau vì ông muốn tránh nơi quyền thế, mới xin đổi sang chức võ, được làm Hiệu điểm tạm coi việc võ, thăng mãi đến chức Tả đô đốc, tước Trung Phái hầu. Khi về hưu, được đặc ân cho dự vào bậc Quốc lão. Ít lâu sau lại được chia (Trịnh Sâm - TG) lại gọi ông ra làm quan. Ông cổ từ, chúa cho bài thơ Quốc âm để dụ ông, nhưng ông vẫn không chịu ra"[15].
     Năm 1773, Nhữ Đình Toản qua đời, thọ 72 tuổi, được truy tặng Thái bảo.
     Tóm lại, sự nghiệp quân sự của Nhữ Đình Toản nổi lên vai trò của một tham mưu trong phủ chúa. Việc ông tham gia cầm quân đi đánh dẹp các cuộc nổi dậy của nhân dân diễn ra không nhiều. Cương mục chỉ chép duy nhất một sự kiện vào năm 1741 ông đi đánh dẹp Nguyễn Kinh, mặc dù bị thua nhưng bởi ông được Nguyễn Kình rất nể trọng nên sau đó với tài chiêu dụ của Nhữ Đình Toản đã khiến cho Nguyễn Kinh đem quân đầu hàng mà không tốn một mũi tên hòn đạn. Sự kiện này đã thấy sự tài giỏi và uy danh của ông lúc đương thời. Và sau đó, cũng chính vì kiến thức uyên thâm nênông đã được với vào làm việc trong phủ chúa, bên cạnh chúa với vai trò của một “tham mưu quân sự”. Sự nghiệp quân sự của ông kinh qua 10 năm, làm đến chức Thượng thư bộ Binh và Tham tụng, rồi nghỉ hưu. Tên tuổi của ông và gia tộc họ Nhữ với truyền thống học giỏi, đỗ cao lưu truyền sử xanh.
 
 

[1] Viện Sử học Việt Nam
[2] Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chi, Tập 1, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1992, tr. 304.
[3] Phan Huy Chú, Lịch tiểu hiện chương loại chi, Tập 1, sđd, tr. 303.
[4] Xã Ninh Xả sau đổi là Ngô Đồngthuộc huyện Chí Linh, phủ Nam Sách, Hải Dương, nay thuộc huyện Chi Linh, tỉnh Hải Dương.
[5] Khâm định Việt sử thông giám cương mục (từ đây viết tắt là Cương mục), tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998, tr 508. Phạm Văn Sơn trong Việt sử toàn thư từ thượng cổ đến hiện đại, bản PDF, tr.350 cũng đã viết: “Từ 1577 đến 1638, ta không thấy sử chép có vụ phiến loạn nào đã xảy ra từ Mạc khởi nghiệp đến đời vua Lê Thần Tông. Nhưng đón đời của Uy Nam Vương Trịnh Giang thì nhiều việc giặc đã liên tiếp bùng nổ ở nhiều nơi trong nước. Lý do là Trịnh Giang thất chánh đã giết vua lại còn tàn sát các đại thân như Nguyễn Công Hãng Lê Anh Tuấn v.v… và ăn chơi xa xỉ,  dâm đãng khiến công quỹ thiếu hụt, sưu thuế nặng nề. Ở các trận bây giờ có Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cử nổi lên tại làng Ninh Xá, huyện Đường An Hải Dương), Hoàng Công Chất, Võ Đình Dung ở đất Sơn Nam, Ở Sơn Tây có Nguyễn Danh Phương, Nguyễn Diên, Tế, Bồng; tại vùng Duyên Hải (Bắc Việt) có Nguyễn Hữu Cầu, và ơt Thanh Nghệ có sự hoạt động của Lê Duy Mật (ở Thăng Long chạy vào)”
[6] Tháng 3- 1741, sau khi dẹp yên được các cuộc nổi dậy ở Hài Dựọng, triều đình Lẻ - Trịnh chia Hải Dương làm 4 đạo và đặt chức Tuấn phủ bốn đạo: Thượng Hồng, Hạ Hồng, An Lào và Đông Triều, mỗi đạo đặt một chức Tuấn phủ đẻ chiều theo địa phần vỏ về dân chúng Bổ dụng Nhữ Đình Toàn, Vũ Khâm Lân, Phạm Đình Trong và Vũ Phương Để giữ chức Hiệp đồng Trước đó, tháng 6-1739, triều đình Lê-Trịnh đổi tên chức "trấn thủ” và “lưu thủ" ở các trận gọi là "đốc phủ" Chỉ có ở Lạng Sơn gọi là "tông phủ” và Nghệ An gọi là "đốc suất”. Riêng Nghệ An là nơi biên trân trọng yêu, nên về quan văn thì dùng chức Tà thị lang và Hữu thị lang làm Độc thi quyển ngang với Đức suất.
[7] Phan Huy Chủ, Lịch triều hiển chuơng loại chi, tập 1, sđd, tr.304.
[8] Cương mục, sđd, tr 583
[9] Niên hiệu Cảnh Hưng: 1740-1786.
[10] Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chi, tập 1, sđd, tr 303.
[11] Cương mục, sđd x 594 595.
[12] Cương mục, sđd, tr.597.
[13] Cương mục, Sđd, tr. 598 Tuy nhiên Đinh Văn Giai nhieu khi thay quán của Danh Phương nhưng không danh nên mặt Tây đối với triều đình vẫn cho nhiều lỗi lo. Tháng 2 - 1750, Trịnh Doanh tự đem quân đi đánh Nguyễn Danh Phương
[14] Phan Huy Chú, Lịch tiểu hiện chương loại chi tip 1, sđd, tr. 304,
[15] Phan Huy Chú, Lịch biểu hiện chương lại chi. tập 1, sđd, tr. 304

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

GIới thiệu

BÀI 2: Tài trợ, đóng góp cho hoạt động của Hội đồng Dòng họ Nhữ Việt Nam

 > BÀI 1: TRANG TT  ĐT HỌ NHỮ VIỆT NAM      Để tạo điều kiện cho các hoạt động của Hội đồng dòng họ Nhữ Việt Nam trong các năm 2010, 2011, quí I năm 2012. Hội đồng dòng họ Nhữ Việt Nam đã nhận được sự tài trợ, đóng góp của các cá nhân,...

Đăng Nhập

Bài viết mới nhất

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HỌ NHỮ VIỆT NAM
www.honhuvietnam.com      E-mail: honhuvietnam@gmail.com

Hotline:                                Fax : +84 4 3 863 1091