15:21 EDT Thứ hai, 30/03/2020

Danh mục bài viết

Gủi bài viết

Các bài viết

Trang nhất » Bài viết » Lịch sử, danh nhân...

Thượng thư Nhữ Công Tung

Thứ ba - 06/03/2012 23:02

Tượng thờ Tiến sỹ Nhữ Công Tung - thôn Nhữ xá, xã Thái Hoà, huyện Bình Giang, Hải Dương


 
Nhữ Công Tung còn có tên là Nhữ Tông, Nhữ Tôn, Nhữ Đạm Trang. Ông người làng Nhữ Xá, huyện Đường An. Phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương nay là xã Thái Hoà, huyện Bình Giang. tỉnh Hải Dương.
Nhữ Công Tung sinh khoảng năm 1523 cùng thời với ông Đỗ Uông người làng Đoàn Tùng, huyện Gia Phúc nay là huyện Tứ Kỳ tinh Hải Dương.
Niên hiệu Quang Bảo thứ 3, thời vua Tuyên Tông Mạc Phúc Nguyên khoa thi hội năm Bính Thìn (1556) lẩy đỗ 24 người: Phạm Trấn người làng Lam Kiều huyện Gia Phúc nay là Tứ Lộc tỉnh Hải Dương đỗ Trạng nguyện, Đỗ Uông đỗ Bảng Nhãn, Nguyễn Nghiêu Tá đỗ Thám Hoa, Nhữ Công Tung đỗ đồng tiển Sĩ...

Nhữ Công Tung làm quan Ở triêu đại nhà Mạc và nhà Lê chức thượng thư, tiền tham chiểu quân vụ, đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, thiếu bảo, thiếu phó, phụ trụ quốc trí sĩ khê hầu.Nhữ Công Tung là người thử 3 của dòng họ Nhữ đã đỗ đại khoa.

  Sau: 
Nhữ Văn Lan tiển sĩ khoa Quí Mùi (1463) thời vua Lê Thánh Tông, người làng An Tử Hạ, Tiên Lãng, Hải Phòng.       
Nhữ Mậu Tổ tiển sĩ khoa Bính Tuất (1526) thời Vua Lê Trung Tông, người làng Mộ Trạch huyện Ðường An, Hải Dương.
 Trước: 
Nhữ Tiến Dụng tiến sĩ khoa Giáp Thìn (1664) thời vua Lê Huyền Tông, người làng Hoạch Trạch huyện Đường An, Hải Dương
 Nhữ Ðình Hiền tiển sĩ khoa Canh Thân (1680) thời vua Lê Hy Tông, người làng Hoạch Trạch .
  Nhữ Trong Thai, Bảng Nhãn khoa Quí Sửu (1733) thời vua Lê Thuần Tông, người làng Hoạch Trạch.
  Nhữ Ðình Toản tiến sĩ khoa Bính Thìn (1736) thời vua Lê Ỷ Tông, người làng Hoạch Trạch.
Nhữ Công Chẩn tiển sĩ khoa Nhâm Thìn (1772) thời vua Lê Hiển Tông, người làng Hoạch Trạch.

Danh nhân tiển sĩ Nhữ Công Tung ghi trong Sử Sách và bia đá tại các nơi sạu dây:
 - Bia “Đường An Văn chỉ bi” tại Văn chỉ Đường An (thôn Vạc, xã Thái Học, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương) do tiến sỹ Vũ Như Phan đỗ khoa Bính Tuất (1825) nguyên Bắc Ninh học thụ người xã Lương Đường soạn năm Giáp Thìn (1844) thời vua Thiệu Trị thứ 4. Do di tích Văn chỉ Đường an đã bị phá, bia đá được chuyển về đặt tại đình thôn Vạc, Thái Học, Bình Giang, Hải Dương.
 - Các sách về các vị khoa bảng, Sách của Phạm Đình Hổ 
 Niên hiệu Diên Thành thứ 3 năm Canh Thìn (1580) nhà Mạc cử đoàn sứ bộ đi triều cống nhà Minh hàng năm. Trong đoàn có Đỗ Uông, Nhữ Tông, Vũ Cận, Lê Đình Trí.

Khi Mạc Mậu Hợp đánh nhau với Trịnh Tùng thì Phúc Quận Công: Ðổ Uông, Lễ bộ thượng thư Hống Khê Hấu: Nhữ Tông, Công Bộ Thương Thư: Đồng Hãng, Lại Bộ tả thị lang: Ngô Vị, Đông các đại học sỹ: Ngô Cung, thường chính sứ Hải Dương: Phạm Như Đạo đã bỏ triều nhà Mạc qui hàng Trịnh về với triều Lê.
Thời Lê Trung Tông (Lê Duy Huyền) Nhữ Công Tung tháp tùng Chúa Trịnh lên ải Nam Quan đối khám với nhà Minh. Sau đó năm 1597 ông trong đoàn sứ bộ sang Trung Quốc. Nhữ Công Tung cùng Đỗ Uông làm công tác ngoại giao giúp vua Lê, Chúa Trịnh tạo nên sự giao bang giữa Việt Nam và Trung Quốc được hữu nghị, tập trung sức lực dẹp nhà Mạc ở phía Bắc, đánh nhà Nguyễn ở đàng trong. Trong quá trình làm công việc ngoại giao các ông đã làm những tập thơ “Châu tư tuý bang lục” là những áng văn chương làm rạng rỡ cho đất nước ta.

Tuổi cao ông về trí sĩ và mất tại quê nhà làng Nhữ Xá.
 

Năm Nhâm Dần (1782) Trịnh Sâm chết, Trịnh Cán lên thay, một tháng sau kiêu binh tam phủ nổi dậy giết Quận Huy, phế bỏ Trính Cán, giáng Đặng thị Huệ là vợ Trịnh Sâm làm cung nhân, lập Trịnh Tông làm chúa. Sau đó quận công Trịnh Kiều, Tham tụng Phan Lê Phiên, thiêm sai Nhữ Công Chấn đều bị bãi về làm dân thường. Nhữ Công Chấn về quê làng Hoạch Trạch rồi đi giao du khắp nơi. Ông thường đến chơi làng Nhữ Xá. Khi ông qua nhà cũ của tiến sỹ Nhữ Công Tung ở phía trước xóm chùa, đất rông chừng tám, chin mẫu, ở giữa có gò đất. Lúc Nhữ Công Tung chết, mộ ông được chôn tại gò này. Nhữ Công Chấn ngẫm nghĩ tâm trang của mình cảm hứng làm bài thơ sau:

Phiên âm:

“Cổ tự môn tiền thập mẫu ôi
Tuyền văn thừa tướng cựu đình đài
Vô danh đã thảo mai u kính
Bất danh nhàn hoa lạc vãn đài
Lễ bộ tam triều công đẩu tuấn
Nam Quan lưỡng độ sứ thiều hồi
Công danh phú quý kim hà tại
Tĩnh mịch thu phong thổ nhất đôi”

Dịch:

“Mười mẫu trước chùa đất rộng thay
Nhà quan tướng cũ ấy là đây
Ngõ vùi, cỏ nội nào ai biết
Thềm lấp hoa tàn nọ kẻ hay
Bộ lễ ba triều ngồi chót vót
Ải quan hai độ sứ xa khơi
Công danh phú quý đâu còn nữa
Hiu hắt heo máy nhuốm cỏ dày”.

Nhữ Đình Quỳ, Nhữ Đình Văn

 Tài liệu tham khảo:
- Quốc Triều hương khoa lục
- Đại việt sử ký toàn thư
- Vũ Trung tuỳ bút
- Hoàng Lê nhất thống chí
- Các trạng nguyên nước ta
- Danh nhân lịch sử nước ta
- Văn bia Văn miếu
- Lạng sơn xưa và nay
- Bình giang xưa và nay
- Tộc phả họ Nhữ.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

GIới thiệu

Tổng hợp các đóng gọp cho hoạt động Ban liên lạc năm 2019

Tổng hợp các đóng góp cho hoạt động Ban liên lạc năm 2019  

Đăng Nhập

Bài viết mới nhất

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HỌ NHỮ VIỆT NAM
www.honhuvietnam.com      E-mail: honhuvietnam@gmail.com

Hotline:                                Fax : +84 4 3 863 1091