19:43 ICT Chủ nhật, 17/10/2021

Danh mục bài viết

Gủi bài viết

Các bài viết

Trang nhất » Bài viết » Lịch sử, danh nhân...

TIẾN SĨ NHỮ ĐÌNH TOẢN VÀ NHỮNG BÀI VĂN BIA ÔNG ĐỂ LẠI CHO HẬU THẾ

Thứ sáu - 28/05/2021 11:26
 TIẾN SĨ NHỮ ĐÌNH TOẢN VÀ NHỮNG BÀI VĂN BIA ÔNG ĐỂ LẠI CHO HẬU THẾ
PGS.TS Phạm Thị Thùy Vinh
(Công tác tại Viện nghiên cứu Hán Nôm)

Đền thờ TS Nhữ Đình Toản tại làng Hoạch Trạch, xã Thái Học, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Ảnh do Nhữ Đình Phượng cung cấp
      Nhữ Ðình Toản là nguời làng Trạch Hoạch, huyện Ðường An, nay là huyện Bình Giang, tinh Hải Dương. Cả ông nội và cha của ông đều thi đỗ Tiến sĩ, ông nội Nhữ Ðình Toản là Nhữ Tiến Dụng đỗ Ðồng Tiến sĩ năm 1664, làm quan giữ chức Cấp sự trung. Cha ông là Nhữ Ðình Hiền đỗ Tiến sĩ näm 1680, giữ chúc Thượng thư Bộ Hình và Tham tụng. Khi Nhữ Ðình Hiền qua đời, được triều đình truy tặng là Thái phó, tước Thọ Quận công.
     Được sinh ra trong một gia đình khoa hàng như thể nên Nhữ Đình Toàn rất thông mình. Trong kỳ thì Hương ông đỗ thứ 2, được ban cho giữ chức Tự thừa. Năm 1736 đời Lê Y Tông, ông đỗ Hội nguyên Tiến sĩ. Đầu thời Lê Hiến Tông, ông được thăng lên làm Tham tụng. Lúc đó ở Đàng Ngoài đã xảy ra rất nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân. Nhữ Đình Toàn được giao đảm đương việc nội trị cùng với các vị lão thần. Ông được chúa Trịnh Doanh yêu mến, cho đổi tên là Công Toàn.
      Nhữ Công Toàn cùng Hà Tông Huân điều trần những việc đương sự rất hợp ý chúa Trịnh Doanh, nên được thăng chức Thượng thư bộ Bình và Tham tụng, tước Trạch Phái hầu.
      Nhữ Đình Toàn là người cho rằng văn chương đương thời rườm rà, mất tính thuần hậu. Do đó ông đề nghị khôi phục lại nếp văn chưong thời Hồng Đức, trong các kỳ thi Hương, thi Hội đều dùng văn chương giản dị, bỏ lối viết vụn vặt. Y kiến của ông được thực thì, được giới học thức đương thời tán tụng. Tuy nhiên sau đó Ông đã chuyển sang nghiệp võ, được thăng làm Tà Đô đốc, tước Trung Phái hầu.
      Khi về hưu, ông được ban danh hiệu Quốc lão. Ít lâu sau chúa Trịnh Sâm lại gọi ông ra làm quan nhưng ông từ chối. Ông thọ 72 tuổi, được truy tặng làm Thái bảo.
      Trong kho sách Hán Nôm hiện đang lưu giữ 8 bài văn bía do Nhữ Đình Toàn soạn. Đó là các bài Văn bia sau :
      l. Nhâm Thân khoa Tiến sĩ để danh bi ký, soạn năm Cảnh Hưng 14, đặt tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hà Nội do Tiến sĩ khoa Bính Thìn, Nhập thị Bồi tụng Hỉnh bộ Tả Thị lang, Tri Hàn lâm viên Sự, Hoạch Trạch, Nhữ Đình Toàn phụng sắc soạn.
      2. Cảnh Hưng thập bát niên Đinh Sửu khoa Tiến sĩ để danh bi ký, soạn năm Cảnh Hưng 18, đặt tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, do Đặc tiền Kim từ Vinh lộc đại phu, Nhập Nội thi, Bồi tụng Ngự Sử đài, Phó Đô Ngự sử, hành Binh bộ Tà Thị lang, Tri Hàn lâm viên Sự, Hoạch Trạch, Đường An, Nhữ Đình Toàn phụng Săc soạn.
      3. Tân tạo Đại Tư đồ Hoàng Thai công sinh từ bi ký, soạn năm Cảnh Hưng 23, đặt tại Xã Phụng Công huyện Yên Dũng phủ Lạng Giang, do Nhữ Công Toàn tước Trung Phái hầu, quê xă Hoạch Trạch huyện Đường An, Tiến sĩ khoa Bính Thìn, Đồng dự chính vụ, Quyền Phủ sự, Hữu Hiệu điếm soạn.
      4. Tân kiến Phượng Sơn hậu hiền bi ký, soạn năm Cảnh Hưng 26, đặt tại Xã Thiết Son huyện Yên Dũng phủ Lạng Giang. Tên ông được ghi là Trung Phái hầu họ Nhữ, người Xã Hoạch Trạch huyện Đường An, Tiến sĩ khoa Bính Thìn, Binh bộ Thượng thư, cải Điện tiền Đô Hiệu lý ty Hữu Hiệu điểm, Quyền Phủ sự, Đồng dự chính vụ Soạn.
      5. Hậu Thần bi ký, soạn năm Cánh Hưng 33, đặt tại đình Xã Vân Cốc huyện Yên Dũng phủ Lạng Giang Xứ Kinh Bắc, tên ông ghi trên bìa là Nhữ Công Toản, tước Trung Phái hầu, Tiến Si khoa Bính Thìn, Đồng dự chính vụ, Quyền Phú sự, Hữu Hiệu điềm, chí Sĩ soạn.
      6. Trùng cấu từ vũ bi ký, soạn năm Cảnh Hưng 29, đặt tại văn chỉ xã Thường Vũ, huyện Gia Định, phủ Thuận An. Tên ông ghi trên bia là Trung Phái hầu Nhữ Chuyết Trai người xã Hoạch Trạch, huyện Đường An, chức vụ ghi kèm là Tiến Sĩ khoa Binh Thìn, Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Đô đốc phủ Tả Đô đốc Quyền Phủ sự, Đồng dự chính vụ, chí sĩ soạn.
      7. Hậu Thần bi ký, soạn năm Cảnh Hưng 31, ký hiệu 983 - 86, đặt tại Xã An Vĩ, huyện Đông An, phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, Tiến sĩ khoa Bính Thìn, Điện tiền Đô Hiệu điểm, Quyền Phủ sự, Trung Phái hầu, Đường An, Hoạch Trạch Chuyểt Trai Nhữ soạn.
      8. Khôn Trinh phủ bi ký, soạn năm Cảnh Hưng 32, đặt tại Xã Linh Đường huyện Thanh Trì, Hà Nội. Bia này do hai vị Tiến sĩ là Nguyễn Lê và Phan Lê Phiên soạn, Tiến sĩ Nhữ Công Toàn, Quang tiến Trấn quốc Thượng tướng quân, Quyền Phủ sự đồng dự chính vụ, Đô đốc phủ Tả Đô đốc, Chí sĩ, Trung Phái hầu Nhữ Công Toản nhuận sắc.
      Ngoài ra còn có bia Tự điền các xứ cung tiến tiền, soạn năm Tự Đức 11 (1858) đặt tại Văn chỉ xã Hoạch Trạch, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, ghi 1ại việc Tiến sĩ Nhữ Đình Toàn cùng các vị văn thân trong xã đã đóng góp tiền để sửa chữa văn chỉ.
      Với 8 văn bia được soạn từ năm Cảnh Hưng 14 đến năm Cảnh Hưng 32, cho thấy Nhữ Đình Toán là một tác gia soạn văn bia rất có uy tin 1úc bấy giờ. Điều đó được thể hiện rõ nhất khi ông đã hai lần được vinh dự vâng sắc Vua ban để soạn văn bia đề danh Tiến sĩ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Trong số văn bia do Nhữ Đình Toản soạn, vùng quê Yên Dũng phủ Lạng Giang Xứ Kinh Bắc xưa là nơi ông được mới về soạn nhiều nhất (3 bia) nhưng quê ông ở Hải Dương lại không có văn bia nào. Thông thường việc mới soạn văn bia cho các địa phương đầu dựa trên các mối quan hệ quen biết, hoặc với các Tiến sĩ cùng trang lứa, hoặc với các quan đồng liêu hoặc do biết tiếng văn hay đức trọng mà mời soạn. Người được Vua ban sắc soạn văn bia đề danh Tiến sĩ đương nhiên là người có đủ những phẩm chất cũng như văn chương ưu việt đề thực thi công việc vẻ vang đó. Điều này cũng phù hợp với sử sách đã ghi về ông là người rất thông mình, giỏi thơ văn nhưng1ại không thích loại văn chương sáo rỗng, ưa lối văn thuần hậu như thời Hồng Đức và chính ông 1à người đề nghị các khoa thi Hưong, thi Hội phải dùng lổi văn chương giản dị, súc tích, không sa vào cầu kỳ, tiểu tiết. Với uy tín cả về văn chương và sự nghiệp đương nhiên ông sẽ là người được nhiều nơi mời soạn văn bia để 1ưu danh hậu thế.
      Các bài văn bia ông soạn ở vùng Kinh Bắc và Hưng Yên đều liên quan đến những nhân vật có uy tin. Chẳng hạn trên bia Trùng cầu từ vũ bí ký đặt tại văn chỉ xã Thường Vũ, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh do ông soạn cho biết: Văn chỉ huyện đặt tạ xã Thường Vũ bị đổ nát do phải trải qua binh hỏa. Quan Lễ bộ Thượng thư Trần Dạnh Ninh là người bản quán đã bỏ tiên của ra đề tu sửa lại. Chính vì cũng làm quan đồng triều với chức vụ cũng ngang nhau nên Nhữ Đình Toản đã được mới về soạn văn bia. Văn bia Tân tạo Hoàng Thai công sinh từ bi ký tại xã Phụng Công, huyện Yên Dũng, phủ Lạng Giang lại cho thấy người được xây sinh từ để dân thờ sống là Hoàng Công Phụ, văn bia này do Nhữ Đình Toản soạn và Tiến Sĩ Nguyễn Nghiễm, Nhập thị Tham tụng, Công bộ Thượng thư, Quốc Tử Giám Tế tửu nhuận sắc. Hoặc trên bia Hậu Thần bi ký đặt tại xã Vân Cốc, huyện Yên Dũng, phủ Lạng Giang cho biết: Đô Chỉ huy sứ, phong tặng Đô Hiệu điểm ty, Tả Hiệu điểm, Hiển Quận công, Dương tướng công là bậc kỳ tài, có công lao với dân với nước. Ông đã đóng góp tiền, ruộng cho xã nên được bầu là hậu Thần. Tương tự như vậy, trên bìa Hậu Thần bi ký đặt tại xã An Vĩ, huyện Đông Yên, phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên đã cho biết: Quan Thái tế, Đại Tư đồ, Tả Tướng quân Nguyễn Bá Khanh là người có công đánh giặc, chiêu tập dân 1ập nên xóm ấp yên vui nên được dân bầu là Hậu thần.
      Trong số 8 bài văn bia do Nhữ Đình Toản soạn và hiệu đính, bia Khôn Trỉnh phủ bi ký ông tham gia nhuận sắc 1à bia về một vị Vưong phi trong phủ Chúa Trịnh quê tại xã Linh Đường, huyện Thanh Trì. Từ nội dung của các bài văn bia do Tiến sĩ Nhũ Đình Toản soạn trên đây đã cho chúng ta thấy ông hầu như chỉ soạn văn bia cho những nhân vật có vị thế trong xã hội, bấy giờ. Điều này càng chứng tỏ ông là một vị quan giữ trọng trách lớn trong triều đình. Tra cứu các thông tin về ông, chúng tôi chỉ thu nhận được những thông tin tổng hợp đã tóm lược ở phần trên. Nhưng ở mỗi tấm bia đã khắc ghi bài văn bia do Nhữ Đình Toản soạn đã nêu rất chuẩn xác các điều cơ bản nhất về sự nghiệp của ông mà không có nguồn sử liệu nào có thể ghi lại đầy đủ và kịp thời như vậy. Lịch sử cho biết Nhữ Đình Toản là một quan chức cao cấp của triều đình Lê Trịnh, trong công việc điều hành công vụ ông rất được chứa Trịnh tin dùng và yêu mến, lại được Chúa Trịnh Doanh ban cho tên là Công Toàn. Ông là người vừa giữ chức quan văn lại vừa giữ chức quan võ. Tất cả những điều khái quát về sự nghiệp của ông đã được cụ thể hóa trên từng bài văn bia khi ghi tên người soạn. Bởi chính ông 1à người đã đưa thông tin về bản thân mình. Trên hai văn bia Tiến sĩ đề danh bi ký tại Văn Miếu, tên ông vẫn ghi là Nhữ Đình Toàn nhưng phần chức vụ lại được ghi cụ thể hơn: năm Cảnh Hưng 14, ông giữ chức Nhập thị Bồi tụng Hinh bộ Tả Thị lang, Tri Hàn lâm viện sự. Năm Cảnh Hưng 18, chức vụ của Nhữ Đình Toàn đã được thăng lên là Đặc tiển Kim tử Vinh lộc đại phu, Nhập Nội thị, Bồi tụng Ngự Sử đài, Phó Đô Ngự sử, hành Binh bộ Tả Thị lang, Tri Hàn lâm viện sự. Năm Cảnh Hưng 23, tên ông được ghi là Nhữ Công Toản, đã được ban tước Trung Phái hầu, chức Đồng dự chính vụ, Quyền Phủ sự, Hữu Hiệu điểm. Như vậy chỉ trong vòng 5 năm từ Cảnh Hưng 18 đến Cảnh Hưng 23 ông đã được ban tước Hầu, đứng thứ 2 trong phẩm tước từ Công, Hầu, Bá, Tử, Nam. Đường quan lộ của ông cũng thăng tiền nhanh chóng, khi đến năm Cảnh Hưng 26, ông đã là Binh bộ Thượng thư, cải Điện tiền Đô Hiệu lý ty Hữu Hiệu điểm, Quyền Phủ sự, Đồng dự chính vụ. Tức 1à từ năm Cảnh hưng 23 ông đã dự luận bàn việc chính yếu của quốc gia. Đến năm Cảnh Hưng 29, chức của ông lại nghiêng về võ quan và lúc này ông đã về nghỉ hưu, là Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Đô đốc phủ Tá Đô đốc, Quyền Phủ sự, Đồng dự chính vụ, trí Sĩ. Năm Cảnh Hưng 33, phần ghi chức vụ của ông chỉ còn là Đồng dự chính vụ, Quyền Phủ sự, Hữu Hiệu điểm, tên ông ghi trên bìa từ năm Cảnh Hưng 26 về sau đến là Nhữ Công Toản hoặc Nhữ Chuyểt Trai hoặc họ Nhữ tước Trung Phái hầu và trên bia năm Cảnh Hưng 29 và Cảnh Hưng 33 ghi rõ đã trí sĩ. Tuy nhiên, trên vẫn bia soạn năm Cảnh Hưng 31, phần ghi Chức vụ của Nhữ Đình Toàn là: Điện tiền Đô Hiệu điểm, Quyền Phủ sự nhưng không ghi 1à trí sĩ. Phải chăng lúc này Nhữ Đình Toàn lại được chúa Trịnh vời ra làm quan trở lại?
      Đến năm Cảnh hưng 32, chức vụ của Nhữ Đình Toản lại được ghi là Quang tiến, Trấn quốc Thượng tướng quân, Quyền Phủ sự, Đồng dự chính vụ, Đô đốc phủ Tá Đô đốc, trí sĩ. Như vậy ông1ại được phong tặng chức cao hơn và cũng cho biết ông đã nghỉ hưu.
      Từ những thông tin trên văn bia đã cho hậu thể biết rõ ràng những chặng đường quan lộ của Nhữ Đình Toản. Những thông tin đó Iại do chính ông cung cấp thì sự đảm bảỏ của thông tin là tuyệt đối chính xác. Ớ bài viết này chúng tôi chưa đề cập đến nội dung những bài văn bia do ông soạn. Đó 1à điều thật cần thiết để dành cho những ai muốn tìm hiểu sâu hơn về con người và sự nghiệp của Tiến sĩ Nhữ Đình Toàn. Giải mã những bài văn bia do ông soạn sẽ cung cấp rất nhiều thông tin về những sự kiện và nhân vật củâ thời đại Nhữ Đình Toản sống, thời đại có cả Vua Lê và Chúa Trịnh ở nửa cuối thế kỷ XVIII.
6/12/2013
 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

GIới thiệu

Bài 3: LỜI CẢM ƠN

    LỜI CẢM ƠN   Để đáp ứng cho các  hoạt động của Hội đồng dòng họ Nhữ Việt Nam như: - Thăm viếng “vấn Tổ, tìm Tông”, giao lưu  giữa Hội đồng dòng họ Nhữ Việt Nam với các địa phương, tìm hiểu truyền thống, cội nguồn để viết bài giới thiệu về họ Nhữ các nơi; - Duy...

Đăng Nhập

Bài viết mới nhất

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HỌ NHỮ VIỆT NAM
www.honhuvietnam.com      E-mail: honhuvietnam@gmail.com

Hotline:                                Fax : +84 4 3 863 1091