18:54 ICT Chủ nhật, 17/10/2021

Danh mục bài viết

Gủi bài viết

Các bài viết

Trang nhất » Bài viết » Lịch sử, danh nhân...

THAM TỤNG NHỮ ĐÌNH TOẢN VỚI SÁCH “BÁCH TY THỨ VỤ”

Thứ năm - 10/06/2021 18:33
THAM TỤNG NHỮ ĐÌNH TOẢN VỚI SÁCH BÁCH TY THỨ VỤ”
TS. Nguyễn Hữu Tâm - Viện sử học

Hội thảo khoa học Tế Tửu Quốc Tử Giám Nhữ Đình Toản con người và sự nghiệp tại Văn miếu Quốc Tử Giám Hà Nội ngày 20/12/2013
l. Tiểu sử sự nghiệp của Nhữ Đình Toản (1703 — 1773)
     Ông người làng Hoạch Trạch, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng (nay là xã Thái Học, huyện Bình Giang, Hải Dương), lúc nhỏ có tên là Đình Toản, được sinh ra trong một gia đình gia giáo thuộc dòng “khoa bảng”. Ông nội là Nhữ Tiến Hiền, đỗ Đồng Tiến sĩ khoa Giáp Thìn đời Cảnh Trị [1664] vua Lê Huyền Tông (1663 - 1671), làm quan đến Cấp sự trung. Thân phụ là Nhữ Tiến Hiền, đỗ Tiến sĩ khoa Canh Thân đời Vĩnh Trị [1680] vua Lê Hy Tông (1676 - 1705), từng đi sứ, thăng quan tới Thượng thư Bộ Hình và Bồi tụng, nổi tiếng xử kiện công băng, được người đương thời khen ngợi[1].
     Nhữ Đình Toản từ hồi trẻ rất thông minh, lại được rèn cặp bởi người cha nghiêm khắc, có học vấn, nên ông sớm có một kiến thức sâu sắc. Nhưng mãi đến năm 26 tuổi, thân phụ mới cho đi thi(*), ông đỗ thứ hai kỳ thi Hương. Theo chế độ tập ấm, Đình Toản được ban chức Tự thừa, với nhiệm vụ trông coi đền miếu, hoặc Văn miếu các tỉnh. Sau này, vào năm thứ 4 triều vua Minh Mệnh [1823], có đặt chức Tự thừa ở Văn Miếu thuộc Kinh sư, trật tòng bát phẩm.
     Năm 1736, khi ông vừa tròn 35 tuổi, tham gia kỳ thi khoa Bính Thìn, niên hiệu Vĩnh Hựu thứ 2 vua Lê Ý Tông (1735 - 1740), Nhữ Đình Toản xếp thứ 5 trong số 15 người đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân.
     Năm 1742, ông được cử làm quan Thái Phỏng sứ, đi tra xét những viên quan lại hà khắc, nhũng nhiễu dân chúng ở vùng Sơn Nam hạ lộ[2]. Sau đó, Đình Toản trải nắm giữ các trọng chức trong triều Lê - Trịnh như Thượng thư bộ Binh, Tham tụng, tước Bá Trạch hầu. Trong thời gian giữ chức, ông luôn một lòng tận tụy phụng sự triều đình Lê -Trịnh,cùng với các đại thần khác như Hà Tông Huân đưa ra những kiến nghị, điều trần chính sự đương thời, được các chúa Trịnh rất yêu quý, trọng dụng, đã cho đổi tên đệm từ Đình Toản sang Công Toản. Nhà bác học Phan Huy Chú cho biết: ''Bẩy giờ Nhà nước nhiêu việc, ông là người mới ỉên cùng hai ba vị cố lão cùng làm mọi việc. Ân vương rất yêu mến trọng đãi, cho đổi tên là Công Toản”[3]. Sau đó, khi đang giữ- chức Thượng thư bộ Hộ, ông nhiều lần xin đổi sang võ ban, vì “muốn xa lánh nơi quyền thể”[4]. Năm Nhâm Ngọ, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 23 (1762), Đình Toản được chuyển sang nắm giữ chức Hữu Hiệu điểm, cai quản đội quân cấm vệ Nghiêm Hữu, trật tòng nhị phẩm tương được với Thưọng thư Lục bộ, vào cuối đời ông được thăng đến chức Tả đô đốc, tước Trung Phái hầu[5]. Khi về hưu chúa Trịnh ban đặc ân cho ông dự hàng Quốc lão, thường được vời ra Kinh đô hỏi ý kiến về chính sự. Thời gian hưu trí chưa được lâu, chúa Trịnh lại mời ra làm quan, Ông cố từ chối. Ông từ trần vào năm Quý Tỵ (1773), hưởng thọ 71 tuổi, triều đình truy tặng hàm Thái bảo.
 
2. Về sách “Bách ty thứ vụ”
2.1. Tên gọi của sách

     Theo giới nghiên cứu, các tác phẩm của Nhữ Đình Toản có: Bách ty chức chưởng, Hoạch Trạch Nhữ tộc phả và Trung quân liên tập vịnh. Trong đó, Bách ty chức chường hay Bách ty thứ vụ được nhiều thư tịch nhắc đến, đánh giá cao giá trị của trước tác này: "Năm Tân Mùi (1751), [Nhữ Đình Toản] hiệu chỉnh quyển Bách quan chức chưởng... Thời bấy giờ khen là điển chương tốt[6] hoặc “có thể gọi [Bách ty thứ vụ] là Pháp điển đời thái bình vậy”[7]
     Bộ Đại Việt sử kỷ tục biên (1676 - 1789) thường được coi là tác phẩm sử học do Quốc sử viện triều Lê – Trịnh biên soạn, nối tiếp quyển XIX của Đại Việt sử kỷ toàn thư[8], cung cấp tư liệu sớm nhất về việc chúa Trịnh giao cho Đình Toản biên soạn sách chấn chỉnh quan chức: Tân Mùi, [Cảnh Hưng] năm thứ 12 (1751), tháng 6 định lại chức trách trăm quan. Chúa Trịnh nghĩ trong cõi đã yên, trước nên chỉnh định quan chức. Sai Nhữ Đình Toản tham chước thể lệ quan chế của các ừiều làm thành sách “Tấn thân sự lục”[9]. Sau này, các Sử thần trong Quốc sử quán triều Nguyễn có lẽ cũng theo sách Đại Việt sử kỷ tục biên đưa ra nội dung tương tự, nhưng lại gọi tên sách là ''Tân thân thực lục”[10]. Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí lại cũng đưa ra thêm hai tên gọi khác của sách này là “Bảch quan chức chưởng”[11]uBách ty chức chưởng” được biên soạn năm Cảnh Hưng 13 (1752)[12].
     Học giả Trần Văn Giáp trong Tìm hiểu kho sách Hán Nôm - nguồn sử liệu văn học sử học Việt Nam sau khi tiến hành khảo cứu, so sánh đưa ra kết luận cho rằng: Vậy ta có thể nói rõ là sách Bách ty chức chưởng có nhiều tên: 1. Bách ty chức chưởng, 2. Tẩn thân thực lục, 3. Bách ty thứ vụ. Nhưng tóm lại ba tên ấy vẫn chỉ là một sách do triều đình Cảnh Hưng sai Nhữ Đình Toản biên soạn, cho phép Nguyễn Sĩ Tín khắc in năm 1751[13]. Theo chúng tôi: sách “Bách quan chức chưởng” mà Phan Huy Chú chép trong Lịch triều hiến chương loại chí cũng là một tên gọi khác của sách Bách ty thứ vụ.
     Để bổ sung và làm rõ hơn, xin được tìm về ngọn nguồn ý nghĩa của cách gọi Bách ty thứ vụ 百司庶務. Theo bộ từ điền Từ Nguyên:
Nguyễn văn: 百司:朝廷大臣王公以下百官之總稱.書立政:“左右攜 僕,百官庶府”.北史齊文襄(高澄)紀武定五年:“在朝百司,怠惰不勤,有 所曠廢者,免所居官”[14]
     Phiên âm: Bách ty (tư): Triều đình Đại thần, Vương công dĩ hạ bách quan chi tổng xưng, Thư Lập chính: ''Tả hữu huề bộc, bách quan thứ phủ”. Bắc sử Tề Văn Nhưong (Cao Trừng) kỷ Vũ Định ngũ niên: Tại triều Bách quan, đãi đọa bất cần, hữu sở khoáng phế giả, miễn sở cư quan”.
     Dịch nghĩa: Bách ty (tư) chỉ đại thần triều đình, từ gọi chung bách quan, kể từ Vương công trở xuống. Thiên Lập chính trong Kinh Thi viết: "Tả hữu dìu dắt chư hầu, bách quan các phủ”. Bắc sứ, kỷ Tề Văn Nhương (tên là Cao Trừng), năm Vũ Định thứ 5, chép: ''Bách quan trong triều, nếu có viên quan nào lười biếng không chăm chỉ, xao nhãng [công việc], bãi miễn không cho giữ chức”
     Nguyên văn: 庶務:國家個種政務.文選,黄,陸士衡(機)辯亡論下:“故 百官苟合,庶務未遑.” 宋書謝景仁傳附謝述载劉裕與子義康書:“汝是親 庶務,而任重事殷,宜寄懷群賢,以盡弼諧之美.”後專指行政管理的各 種雜務.[15]
     Phiên âm: Thứ vụ, Quốc gia các chủng chính vụ. Văn tuyển, Tấn, Lục Sĩ Hoành (Cơ) Biện vong luận hạ: “Cố bách quan cẩu hợp, thứ vụ vị hoàng". Tống thư Tạ Cảnh Nhân truyện phụ Tạ Thuật tải Lưu Dụ dữ tử Nghĩa Khang thư: "Nhữ thị thân thứ vụ, nhi nhậm trọng sự ân, nghỉ kỷ hoài quân hiên, dĩ tận bật hài chì mỹ”. Hậu chuyên chỉ hành chính quản lý đích các chủng tạp vụ.
     Dịch nghĩa: Thứ vụ là các công việc hành chính của Nhà nước. Sách Văn tuyển, chép bài Biện vong luận (Bàn về việc mất nước) phần hạ của Lục Sĩ Hoành đời Tấn: “Vì trăm quan tập hợp chưa được quy củ, cho nên chính sự chưa được thong thả”. Sách Tống thư, phần phụ truyện Tả Cảnh Nhân là truyện Tạ Thuật có chép thư của Lưu Dụ gửi cho con là Nghĩa Khang: "Con đang tự mình làm chính sự, mà chức trách nặng, công việc phải ân cần, nên đối đãi chân thành với mọi người hiền tài, để có thể làm tốt việc phò tá một cách hài hòa”. Sau này, thứ vụ là từ chuyên để chỉ các loại công việc quản lý hành chính.                                                                                                                  
     Như vậy tổng hợp lại, Bách ty thứ vụ nghĩa là các công việc chính sự mà trăm (các) quan phải thi hành, hoàn toàn phù họp vói yêu cấu chính đốn quan lại của chính quyền Lê - Trịnh đương thời.
     Chúng tôi cho rằng Bách ty thứ vụ là tên sách mà do chính Nhữ Đình Toản đặt ra từ lúc đầu, còn Bách ty chức chưởng, Tẩn thân thực lục, Tẩn thân sự lục, Bách quan chức chưởng đều chỉ là các tên gọi khác phát sinh sau này.
 
2.2. Nội dung chủ yếu của Bách ty thứ vụ
     Hiện tại nguyên bản chữ Hán Bách Ty thứ vụ 百司庶務 còn lại một quyển được lưu giữ trong Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm với ký hiệu kho là VHv.1273. Chúng tôi sử dụng bản chụp lại của bản VHv.1273 trên khổ giấy A4[16], chiều cao bản sách là 22cm, chiều ngang là 15,5cm. Toàn sách gồm 33 tờ (a, b), mỗi tờ có 8 dòng, mỗi dòng trung bình 17 chữ Hán, tổng cộng khoảng gần 8.000 chữ. Bản sách in khắc, nên dễ đọc, nhan đề là Bách ty thứ vụ 百司庶務.
     Tờ 1a và tờ 32b có dấu bầu dục của kho sách Học viện Viễn Đông bác cổ viết tắt là EFEO, cùng các dấu kiểm kê của Thư viện Thông tin Khoa học xã hội trưóc đây và của Viện Nghiên cứu Hán Nôm vào các năm 1974 và 1988... Tờ 33a in dấu có hàng chữ ghi bên cạnh Ngự hạ phong tử, ngày 26 tháng 2 niên hiệu Cảnh Hưng thứ 12 (tức ngày 3 - 7 - 1751). Tờ 33b cuối sách có dòng chữ đề phụng mệnh tàng bản là Thị nội Nguyễn Sĩ Tín, người xã Hoa Đường, huyện Đưòng An, phụng sao lại là Nho sinh trúng thức người thôn Bằng Đắng huyện Bạch Hạc. Tờ sách cuối cùng đóng hai dâu vuông, một dấu khắc 4 chữ: Tấn thân thực lục.
     Trong sách có những chữ kiêng húy như chữ Trừ... (tờ 13b), chữ Đề... (tờ 15a, tờ 16b, tờ 22a) theo kiểu tòng nháy nhân trên đầu mỗi chữ. Bắt đầu từ triều Lý (1009 - 1225) đến đời Nguyễn (1802 - 1945) trải qua hơn 900 năm, chữ húy vẫn được thi hành trong các thư tịch chữ Hán, Nôm của Việt Nam. Đôi với cấc nhà nghiên cứu văn bản Hán Nôm thì chữ húy được coi là một chiếc chìa khóa đề giải mã niên đại. Những chữ húy được phát hiện trong sách Bách ty thứ vụ, hoàn toàn phù họp với những quy định về chữ húy dưới triều Lê sơ (1428 - 1527) chữ Trừ ... và Lê Trung hưng (1533 - 1788) chữ Đề... Từ các cứ liệu này kết họp với dòng lạc khoản ghi cuối sách, càng khẳng đinh hơn văn bản sách thuộc niên hiệu Cảnh Hưng, triều vua Lê Hiển Tông (1740 - 1786)
     Đầu sách có bản chỉ dụ của triều đình với tiêu đề là: Chỉ định Tẩn thân sự lục … (Ghi chép quy định làm quan), nhằm giải thích vì sao phải thay đổi chính, sách, chấn chỉnh chức nhiệm của bá quan văn võ trong triều. Bài Chỉ dụ cho Thân huân Đại thần văn võ bách quan (tờ la - 2a) như sau:                                                                                                                                                          '
     Ta (Trẫm) nghe Thánh nhân chỉnh đốn càn khôn, bao quát vũ trụ trong ngoài, đã cử hành tất phải nghiêm chỉnh điều lệ nội trị. Vì vậy, Chu Vương sau khi phân chia các khu vực[17] để được thừa hưởng ân trạch, sửa sang quan lại, Hán vương nhân lúc thiên hạ hướng tới thanh bình liền định hình lại chức, khiến dân khang vật thịnh, thật là thòi đại tốt đẹp
     Triều ta các vua tiếp nối, nhân việc mà đặt quan, tuân theo chế độ cũ của Hồng Đức[18] trong ngoài (triều đình), lớn nhỏ các quan đều có nhiệm vụ nắm giữ, các điều lệ đương thi hành, cũng thường theo thời mà chỉnh đốn chi tiết không bỏ sót, thành hệ thống không vưóng mắc...
Ta (Trẫm) từ ngày tham gia chính sự đến nay, biết hết mọi mối tệ cũ, chỉ có điều công việc binh nhung chưa kịp rỗi rãi, thay đổi cũng đã tăng, ân cần đạy dỗ phép tẳc mà dân tình vẫn luôn đùa giỡn như để bên ngoài, muốn thành công trừ được mối mê hoặc lòng người phải nên thay đổi chính sách. Nay biên cương bên ngoài đã thanh bình, trong triều yên tĩnh, chỉnh đốn chính sự hợp với thời nghỉ. Tuân chiểu theo quy tắc điên lệ và châm chước công việc đương thời, nên tất cả bách quan các phủ định rõ nhiệm vụ quản lý để mọi người hiểu rõ nắm giữ chức không dễ dàng, mới có thể khiến cho mãi được thanh bình. Lệnh cho các viên quan phải hiệp sức mới có thể thi hành. Nay bắt đầu tuyên bố truyền lời ban dạy đến các quan phải chấp hành kỷ cưomg của Nhà nước, duy việc thưỏng phạt, phải cố gắng suy nghĩ chịu khó phấn đấu, không được chờ đợi vào những lời nói phiền nhiễu, nay ban đặc dụ này. Bài chỉ dụ này không ghi rõ năm tháng ban hành vì thế cũng không biết danh tính vị vua ban dụ.
     Sau bài dụ là 9 điêu quy định chức trách cho các quan trong Kinh, ngoài trấn để tùy tài bổ dụng, chọn lấy các chức (tờ 2a - 1 la), xin được giới thiệu nội dung các điều như sau:
     Điều thứ nhầt: Chính quân tâm (làm cho lòng vua được ngay thẳng), đại để chức nhiệm của người phò tá trước hết phải làm cho lòng [vua] ngay thẳng, phải trình bày điều thiện, ngăn ngừa điều gian tà, có thể giúp đỡ dập tắt mầm mống của suy nghĩ không ngay thẳng, tùy theo việc mà phê phán nghiêm túc để đưa về chính quy. Thảng hoặc có sự việc nào xuất hiện xu hướng không tốt thì trình bày theo lý lẽ, nếu như chưa ổn thỏa, nên nhiều lần biện giải cho sự việc được trung chính, khiến chỉ cần tiên hành người thường sẽ nghe theo mà lấy đó làm điều chính đáng. Trăm quan là cái gốc của muôn dân.
     Điền thứ hai: Trăm quan, Đại thần là những người phụng sự nhà vua trước tiên phải tiến cử người hiền tài, loại bỏ những kẻ bất tài. Cho nên, các quan văn võ trong, ngoài triều phải đối chiếu tài năng, phẩm hạnh bàn nghị cùng với chính tích, công trạng khi làm quan để phân định cao thấp. Lấy sự sai dịch giữa nơi nhiều việc với nơi ít việc, những người liêm khiết năng lực mân cán dũng cảm tài lược để tiến cử... Những người tầm thưòng, không gì nổi bật lưu giữ lại. Còn những kẻ tham lam, gian tà, nhũng nhiễu... cần phải luận tội, cốt để chính quan danh, giảm trừ mối tệ cho dân chúng.
      Điều thứ ba: Bàn việc chính sách với dân. Dân là mạch máu của quốc gia, nên phải bảo hộ. Sau chiến tranh phải nên tăng cường vỗ về, ngày nay giặc giã biên cương đã bình định, bốn phưomg đều đang đỏ mắt ngóng ưông chính sách tốt đẹp. Cần phải thẩm định thu thập, tìm hiểu các sự việc phiền nhiễu trong dân, lượng giải khoan hậu, để làm rõ thực ý của triều đình. Những nơi nào bị điêu tàn, được phép chiêu tập các xã dân, cũng nên ban bố điều lệ để các quan thi hành. Ruộng hoang ở các xứ từ trước do người xã khác bỏ công ra khai khần,căn cứ vào số dân đinh hiện có của xã đó, bàn định số năm để ngăn ngừa sự tranh giành. Còn những việc khác nhằm sửa sang và thay đổi tập tục xấu liên quan đến chính sách lớn với dân đều được tuần tự thi hành.
     Điều thứ tư: Thẩm tra đại sự về việc quân cơ. Từ trước nay việc điều động quân sĩ các nơi phần nhiều đều qua văn thư truyền báo, chiến lược công thủ sơ sài, chỉ đến khi quân địch sắp đến mới đưa ra phương thức, thườmg không có sự chuẩn bị đầy đủ. Từ nay trở đi, nếu có tin báo biên cương phải chước lượng thế lực quân địch mạnh hay yếu, địa thế vùng đó hiểm yếu ra sao, đường đi trước sau của kẻ địch thế nào, tiên liệu trước tình hình sau đó hiệp đồng với các viên tướng tiên phong chuẩn bị quân lương, đạn dược, xe thuyền đầy đủ để đảm bảo thắng lợi... Các trấn đều phải thường xuyên tuần phòng sai phái cho hoàn bị, nên thẩm tra địa thế xa gần,phong tục dân chúng thuần lương hay hung hãn, có thể gia tăng bao nhiêu quân lính các viên trấn quan phải chuẩn bị để thuận tiện cho việc khống chế, phòng ngự, luôn xem xét các xứ đồng gần còn để hoang và số ruộng đã mất từ trước. Cho phép các viên trấn quan kê khai số quân trong trấn cần bao nhiêu lương thực, cấp cho rộng trâu, nông cụ canh tác...
     Điều thứ năm: Tiết chế việc chi dùng của Quốc gia là cần kíp. Nay nên bàn nghị việc sản xuất vàng, bạc, chì, sắt, lưu huỳnh... chọn ra các viên quan lập niên hạn, theo từng kỳ mà báo cáo số lượng bổ sung thuế, lại cũng chiếu theo lệ cũ để đặt ra các quan giám sát các hộ làm muối, hộ khai thác đồng, hộ trồng quế, ở Kinh thành hai viên, ở địa phương một viên. Các viên quan giám sát địa phương cho tùy nghi thay đổi để dễ thi hành. Như việc thu thuế các hộ khai thác đồng, hộ làm muối ở đạo Tuyên Hưng cho phép quan đạo ấy chước lượng bổ thuế để thuận tiện việc buôn bán. Tuần ty và các dân binh Nội vi tử các huyện trưng thu thuế, trấn quan các nơi tùy theo việc thông thương buôn bán khai thông hay bế tắc chuẩn định điều lệ mỗi năm chuyển nộp” như khai thông thì nộp bao nhiêu vạn quan, bế tắc nộp bao nhiêu, nhưng số giảm không được vượt quá mấy nghìn quan. Các huyện có đông hộ khai thác, kinh doanh nộp mấy vạn quan, huyện có ít thì giảm không quá mấy nghìn quan...
     Điền thứ sáu: Sáng tỏ việc thể lệ kiện tụng. Nay nên làm sáng tỏ những việc kiện tụng trước đã qua Ngự sử phán xét không thể tự hiểu, lại kêu lên. Phủ đườmg phải bàn chung tra xét, nếu thấy tình và lý không có phương hại thì cho dừng lại, tránh mất công vì kết luận sẽ đều như nhau. Nếu tình và lý có phương hại thì cho phép làm tờ cung khai,nếu có trọng hình thì lưu lại một hai người để tiến hành giám sát. Sau đó ủy quyền cho các viên chánh, phó trấn phủ thẩm vấn, nếu là kêu bừa thì công đồng xem xét theo lời cung khai mà luận tội. Nhược bằng lý lẽ đúng thực, xem lại việc điêu phán sai của các nha môn trước đó là thực thì kẻ phán sai phải chịu luận tội theo luật pháp...
      Điều thứ bảy: Minh bạch việc tỉnh toán, chi thu. Dân đinh, đất đai, hộ tịch là  công việc phú dịch của Nhà nước, phải hiểu rõ trước tiên. Nay lệnh cho sáu cung chiếu theo ngạch cũ của từng cung và mỗi xã hiện tại kính dâng số lượng tăng giảm so với ngạch đầu tiên chép thành 2 bản, một bản lưu lại từng cung, một bản để ở công đường. Để coi đó là việc bí mật, bản lưu tại từng cung đóng dấu bản cung, bản lưu tại công đường đổng dấu của Phủ liêu Ngũ phủ, và dấu được đóng lên trên số lượng dân đinh, ruộng đất của các xã. Từ nay trở về sau, nếu có đăng ký tăng hay giảm đều phải tra so mới được thay đổi và cũng dùng cách đóng dấu như quy định. Nếu có việc sai mà che giấu, sự tình bị phát hiện sẽ tra xét thuộc viên quan, điền lại nào đêu phải trị tội nhằm sửa sang mối tệ, làm sáng rõ chính thể.
      Điều thứ tám: Ban thưởng, giáng phạt theo đúng kỷ cương Nhà nước. Thưởng và phạt là đều do triều đình làm ra nhằm khuyến khích bách quan làm điều thiện, ngăn cấm các điều sai trái, khiến cho những người có trí, dung cảm, chuyên cần công việc, mà những kẻ thấp hèn, có chức quyền không dám tự tiện làm điều xấu, đại khái để xướng xuất làm rõ việc chung khuyến thiện trừng ác vậy. Nay cơ quan hữu ty thực hiện thẩm tra thực chất các quan liêm khiết, cần mẫn, thâm ô, lười biếng, những người đáng thưởng theo phép công kê khai dâng lên, những kẻ đáng phạt theo luật nghiệm trị.
      Phần tiếp theo của 9 điều là quy định chức trách cụ thể hệ thống quan chức từ trung ương đên các địa phưong của triều đình Lê – Trịnh theo trình tự như sau: Bồi tụng, Tham tụng (tờ llb - 12a), Thiêm sai, Tùy sai (tờ 12a), Lục bộ: Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công (tờ 14b), Ngự sử đài (tờ 14b - 15b), Hàn Lâm viện (15b - 16a), Đông các, Quốc Tử Giám (tờ 16a), Lục Tự khanh (tờ16a - 16b), Đề hình, Thập tam đạo Giám sát ngự sử (tờ 16b), Lục khoa: Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công (tờ 16b - 17a), Lục phiên: Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công (tờ 17a - 20b), Nội sai Ngũ phủ Phủ liêu (tờ 21a - 21b), Đe lĩnh (tờ 22a - 22b), Phủ doãn (tờ 22b - 23a), Tông nhân phủ (tờ 23a), Kinh diên (tờ 23a), Sử quan (tờ 23b - 24a), Trung thư giám (tờ 24a), Tư lễ giám (tờ 24a - 24b), Tư thiên giám (tờ 24b), Lệnh sử (tờ 24b - 25 a), Trấn thủ, Lưu thủ, Đốc trấn (tờ 25a - 26a), Tuần thủ (tờ 26a - 26b), Thừa tỵ (tờ 26b - 27b), Hiển ty (tờ 28a - 29b), Phủ quan (tờ 29b - 30b), Huyện quan (tờ 3lb - 32b), Hiệu quan (tờ 32b - 33a).
     Xin lưu ý, mọi chức trách quy định cho hệ thống chức quan do Tham tụng Nhữ Đình Toản châm chước soạn thảo đều rất tường tận,chi tiết, chúng tôi chỉ đưa ra một thí dụ về chức Sử quan để minh chứng.
     Sử quan: Chức nhiệm ghi chép, biên soạn. Mọi lời nói, hành vi của Nhà vua (Thiên tử), sự ham chuộng trong cung cùng với việc gian tà, chính đáng của bách ty, sự thành công hay thất bại của chính sự, tài giỏi hay yếu kém của quan lại, sự xấu tốt của phong tục, tất cả mọi việc đều phải ghi lại sự thực để lưu lại thành những bài học, tấm gương. Một chữ khen chê nghiêm cẩn như hoa cổn, búa rìu, trong khoảng trời đất, quân vương nghĩ về ngòi bút thẳng thắn trong vạn thế mà có thể nêu cao đức tốt, bề tôi sợ hãi công luận của nghìn đời mà không dám làm điều xấu. [Sử quan] có tác dụng khai mở giáo hóa thế giới như thế. Xưa nay, Sử quán chưa từng đặt quan chức. Nhà nước cỏ thể thi hành chính sự cũng cần phải giao việc ghi chép xuống, mà những điều sai lầm thiếu khuyết chưa được in khắc. Nay chiều theo sự lệ của triều trước, lựa sai Giám tu (lệ trước dùng quan Thượng thư), Tổng tài (lệ trước dùng quan Thị lang), Toán tu (lệ trước dùng người làm quan từ Tự khanh trở xuống, có văn học). Triều ta từ khi chưa có san khắc ban bố, thu thập hiệu duyệt, bổ sung, vựng tập để biên tập, chủ yếu những điều tốt xấu, gian tà, chính đáng, khen chê, thành công thất bại, trở thành đại điển của một đời.                                                                                                                           
     Nhữ Đình Toản đã tìm hiểu cặn kẽ chức trách, tác dụng quan trọng của Sử quan, đồng thời chỉ ra những khiếm khuyết của triều đình để bổ sung, đề xuât việc lựa chọn bổ dụng các chức trong cơ quan biên soạn Quốc sử.
     Tóm lại, với Bách ty thứ vụ, Tham tụng Nhữ Đình Toản đã thể hiện tài năng toàn diện trong việc chấn chỉnh lại quan chức triều đình, đóng góp tích cực vào quá trình hoàn thiện cơ cấu tổ chức chính quyền phong kiến Lê - Trịnh ở nửa cuối thế kỷ XVIII. Bác học Phan Huy Chú dành những dòng trân trọng ca ngợi ông trong danh sách người phò tá cỏ công ỉao tài đức thời Lê Trung hưng như sau: “Ông làm tướng hơn 10 năm, cốt giữ thể thống, ưa chuộng khoan hòa rộng rãi. Thời bẩy giờ khen là danh thần”
Trọng Đông, Quý Tỵ (12/2013),
Viết tại Quan Nhạn thư trai
 
(*) Phụ thân Nhữ Đình Toản là Tiến sĩ Nhữ Đình Hiền làm quan Bồi tụng, Thượng thư Bộ hình đã mất từ năm 1716 (Chú thích của trang honhuvietnam.com)

[1] Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chirmg loại chí, tập 1, Nxb Giáo dục, 2007, tr. 360,
[2] Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập 2, Nxb, Giáo dục, 1998, tr. 558,
[3] Phan Huy Chú, Lịch tỉiều hiến chưcmg ỉoại chỉ, tập 1, sđd? tr. 361.
[4] Phan Huy Chú, Lịch triều hiến cìmoĩig loại chí, tập 1? sđd, tr. 362,
[5] Quốc sử quán triều Nguyễn: Khâm định Việt sử thông giám cươỉĩg mục, tập 2, sđd, tr. 646.
[6] Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, sđd, tr.361.
[7] Đại Việt sử ký tục biên (1676 - 1789)rNxb.KHXH, 1991, tr.232.
[8] Đại Việt sử ký tục biên (1676 - 1789), sđd, tr. 11
[9] Đạị Việt sử ký tục biên (1676 - 1789), sđd, tr. 231.
[10] Quôc sử quán triều Nguyễn: Khâm định Việtsừ thông giám cưong mục, tập 2, sđd, tr. 614.
[11] Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chỉ, tập 1, sđd, tr. 361
[12] Phan Huy Chú, Lịch triều hiển chưcmg loại chí, tập 2, Văn tịch chí, Nxb Giáo dục, 2007, tr. 385.
[13] Trân Văn Giáp, Tìm hiển kho sách Hán Nôm — nguồn sử liệu văn học sử học Việt Nam, tập 1, Thư viện Quốc gia, 1978.tr. 220-221.
[14] Từ nguyên, Tu đính bản, quyển 3, Thương vụ ấn thư quán, Bắc Kinh, 1992, tập Ngọ, tr. 2169 (Trung văn).
[15] Từ nguyên, Tu đính bản, quyển 2, Thương vụ ấn thư quán, Bắc Kinh, 1992, tập Dần, tr. 1010 (Trung văn).
[16] Xin chân thành cảm ơn ThS. Nguyễn Văn Tú, Trưởng phòng Nghiên cứu - Sưu tâm của Trung tầm hoạt động VHKH Văn Miếu - Quốc Tử Giam đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp tài liệu để chírng tôi hoàn tliành bài viết này (NHT).
[17] Nguyên văn là:六服 (lục phục) vốn chỉ 6 khu vực do Chu Vương phân chia các vùng đất xung quanh kinh đô gồm: Hầu phục, Điện phục, Nam phục, Thái phục, Vệ phục và Man phục. Từ nguyên, Tu đính bản, quyên 1, sđđ, tập Tý, tr. 304 (Trung văn).
[18] Niên hiệu Hồng Đức (1470 - 1497) của vua Lê Thánh Tông.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin cũ hơn

 

GIới thiệu

Danh sách các dòng họ và cá nhân đóng góp ủng hộ tổ chức Hội nghị họ Nhữ Việt Nam lần 2

Tổng hợp các đóng góp cho tổ chức Hội nghị họ Nhữ Việt Nam lần 2  

Đăng Nhập

Bài viết mới nhất

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HỌ NHỮ VIỆT NAM
www.honhuvietnam.com      E-mail: honhuvietnam@gmail.com

Hotline:                                Fax : +84 4 3 863 1091