16:14 EDT Thứ sáu, 20/09/2019

Danh mục bài viết

Gủi bài viết

Các bài viết

Trang nhất » Bài viết » Lịch sử, danh nhân...

Sơ bộ khảo cứu về thân thế và sự nghiệp văn thơ của Hoàng giáp Nhữ Công Chấn

Thứ ba - 25/12/2012 22:10
SƠ BỘ KHẢO CỨU VỀ THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP
THƠ VĂN CỦA HOÀNG GIÁP NHỮ CÔNG CHẤN
Nhữ Đình Văn
 
Sắc phong cho Nhữ Công Chấn, ngày 24 tháng 11 năm Cảnh Hưng thứ 30 (1769)

 
  Nhữ Công Chấn (1751 – 1805), quê quán xã Hoạch Trạch, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương (nay là thôn Hoạch Trạch, xã Thái Học, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương), đỗ Hoàng giáp, Thiếu tuấn khoa thi Đinh sửu, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 33 (1772). Làm quan triều Lê Hiển Tông đến chức Hữu Thị Lang Bộ Lễ, sau có ra làm quan triều Tây Sơn. Nhiều thơ phú của Ông còn được lưu giữ đến ngày nay và được đăng trong nhiều các sách sưu tầm, tuyển tập.

 Vài nét về truyền thống gia đình
  Nhữ Công Chấn là công tử thứ tư của Tiến sĩ, Thượng thư Bộ Binh, Tả Đô đốc, Quốc lão Nhữ Công Toản (1703-1773), cháu nội Tiến sĩ, Thượng thư Bộ Hình Nhữ Đình Hiền (1657 – 1715), chắt nội Tiến sĩ Nhữ Tiến Dụng (1623 – 1690). Cháu gọi Bảng nhãn Nhữ Trọng Thai là bác ruột. Mười anh em trai nhà Ông đều giỏi giang, thành danh như Nhữ Công Củng (公) đỗ Hương cống làm Lễ Bộ viên ngoại lang, Nhữ Công Vũ (公) đỗ Hương cống, năm 1787 trúng Hội thí Tiến triều (chế khoa), làm Chính sứ Nghệ An, Nhữ Công Liêu (公) đỗ Hương cống, làm Bí thư trực học sĩ, Quốc Tử Giám Thị thư, Binh Bộ Thượng thư từ năm 1793 đến 1801 (triều Tây Sơn - Quang Toản), Nhữ Công Quý (公) đỗ Hương cống, làm tri huyện Gia Lộc, tri phủ Khoái Châu, năm Tân Mùi (1811) dâng sách “Hoàng Việt Thống chí”[1] lên vua Nguyễn v.v…
  Ngay từ nhỏ, Ông đã tỏ ra là người thông minh, giỏi thơ phú và có chí lớn, được Quốc lão Phụ thân đặt niềm tin sau này sẽ nối được sự nghiệp khoa bảng, và tài kinh bang của các bậc tiền bối trong gia đình. Sách “Lịch triều hiến chương loại chí’ của Phan Huy Chú trong phần nhân vật chí viết: “Con trai thứ tư của Ông (Nhữ Đình Toản) là Nhữ Công Chấn, năm 22 tuổi đỗ Hoàng Giáp năm Nhâm Thìn (1772) thi hội, thi đình đều đỗ thứ hai (dưới Hồ Sĩ Đống - quê Quỳnh Lưu) là người ít tuổi nhất, giỏi nhất khoa thi ấy”.  
  Dòng họ Nhữ thôn Hoạch Trạch (Hải Dương) còn lưu giữ được nhiều tờ sắc của triều đình phong cho Nhữ Công Chấn và gia đình Ông đó là: 28 sắc do các triều vua Lê Ý Tông, Lê Hy Tông, Lê Duy Phường, Lê Hiển Tông phong cho Cha, Mẹ, Ông, Bà, Cụ, Kỵ của Ông đều là những người đỗ đại khoa, có công với triều đình, với đất nước hoặc có công nuôi dưỡng sinh thành. 2 sắc triều Lê Hiển Tông phong cho anh trai Ông là Nhữ Công Vũ, 3 sắc Triều Tây Sơn – Quảng Toản phong cho em trai ông là Nhữ Công Liêu và 1 sắc triều Lê Hiển Tông phong cho Ông, đó là một trong số các tư liệu quan trọng để khảo cứu về thân thế và sự nghiệp của Hoàng giáp Nhữ Công Chấn.
 
  Khảo cứu tên “gọi” Nhữ Công Chấn ( 汝 公 瑱 )
  Theo các sách Việt ngữ hiện nay, tên của Ông (phiên âm) chưa được thống nhất, có sách dịch là “Chân”, có sách dịch là “Chấn”, “Trấn” hoặc “Điền”.
- Bản dịch các sách: “Văn bia, Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội” do Đỗ Văn Ninh dịch, sách “Lịch triều hiến chương loại chí” (viết đầu thế kỷ 18) của nhà bác học Phan Huy Chú, sách “Vũ trung tùy bút” (viết đầu thế kỷ 18) của Phạm Đình Hổ… tên Ông được dịch là “Chân”.
- Sách “Di sản văn chương Văn miếu – Quốc Tử Giám Hà Nội” NXB Hà Nội 2010, đăng 4 bài thơ, phú của Ông dịch tên Ông là “Chân”.
- Bản dịch các bộ sách sử được biên soạn trong giai đoạn Triều Nguyễn như: “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” của Quốc sử quán Triều Nguyễn, Sách “Quốc sử di biên” của Phan Thúc Trực… dịch tên Ông là “Điền”.
- Sách "Việt thi tục biên do Nguyễn Thu (1799 - 1855) soạn vào khoảng đầu thời Nguyễn (thế kỷ XIX). Có 3 nhà thơ ở bản A nằm ở cuối quyển II được tuyển tập trong sách, khi dịch ra Quốc ngữ, người dịch đã dịch tên nhà thơ là Nhữ Công Trấn.
- Tại quê hương Nhữ Công Chấn, thôn Hoạch Trạch (Hải Dương), trước đây trong một tài liệu lưu hành nội bộ trong thôn, Ông Nhữ Đình Rồng đã dịch tên (Cụ) là “Trấn”. Ông trưởng họ Nhữ Đình Hoạch cho biết: Không có lưu truyền cụ thể nào để có thể khảng định chắc chắn về tên “gọi” của Cụ, những năm gần đây vẫn xướng tên Cụ là “Chấn” hoặc “Trấn”.  
   Ngày xưa, nước ta dùng chữ Hán, tên gọi mỗi người (âm gọi) luôn đi chặt với chữ viết vì chữ Hán một âm nhiều khi lại có nhiều chữ viết khác nhau và nghĩa cũng khác nhau. Ngược lại, một chữ viết nhiều khi lại có nhiều âm đọc khác nhau, với các nghĩa khác nhau. Trong nhiều sách và gia phả, tên người thường có lời “chua” thêm (kiểu ghi chú) giúp đọc đúng (âm) tên người.

  Chữ viết tên: Theo các tài liệu chữ Hán hiện dòng họ Nhữ thôn Hoạch Trạch (Hải Dương) đang lưu giữ như các tờ sắc triều Lê phong cho Ông năm 1769, cho mẹ Ông năm 1778, cuốn “Hoạch Trạch Nhữ Tộc phả” hay theo chữ khắc bài ký trên bia đề tên tiến sĩ (số 79), khoa thi Đinh Sửu (1772) Văn miếu – Quốc tử giám Hà Nội, bia dựng năm 1772, tên Ông được viết là 瑱, gồm bộ ngọc 玉 ghép với chữ 真 “chân”.  Vấn đề còn lại chỉ là tên của Ông (âm) là gì ? vì chữ 瑱 có nhiều âm đọc khác nhau, mỗi âm đọc lại có một nghĩa khác.

  Phiên âm theo các từ điển: chữ 瑱 có nhiều âm khác nhau như:
- Âm “Trấn” nghĩa là: Ngọc Trấn (hầu hết các Bộ từ điển hiện nay).
- Âm “Chấn” nghĩa là: “Ngọc Chấn”. Bộ từ điển Thiều Chửu, nổi tiếng được dùng ở Việt Nam gần 100 năm qua lại phiên âm là “Chấn”, Ở đây có sự khác nhau giữa “tr” và “ch”. Có bộ từ điển phiên âm chữ 瑱 là “Chấn” và có nghĩa là: Hoa tai, bông tai.
- Âm “Thiến” nghĩa là: Ngọc trang sức hai bên mũ miện rủ xuống tai.
- Âm “Điền” nghĩa là: Ngọc trang sức hai bên mũ miện rủ xuống tai. Vấn đề càng phức tạp vì theo một phiên âm không phổ biến của Khang Hy Từ điển thì chữ có một âm khác là “Điền” cũng có nghĩa như âm“Trấn”.
- Âm “Chân”, theo một số chuyên gia, chữ 瑱 có chữ 真 “chân” ghép cùng, thì có thể đọc là “Chân”. Đây là lý do một số sách dịch tên Ông là “Chân”…
  Khi dịch cuốn “Hoạch Trạch Nhữ Tộc phả” GS Hà Văn Cầu phân tích rằng: “Tên ông là Nhữ Công Chấn vì chữ 瑱  thuộc bộ ngọc giống tên cha ông là Nhữ Công Toản 瓚, hầu hết các anh em trong gia đình ông tên  đều có bộ ngọc giống tên cha như: Công Thương 瑲, Công Củng 珙, Công Vũ , Công Liêu 鐐, Công Cửu 玖… Sách “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” đã chép chữ thiếu nét thành Chữ “điền” , thuộc bộ “thổ” ”.
  Một số chuyên gia Hán - Nôm có ý kiến là: Chữ 瑱 có nhiều âm đọc, vậy thì có lẽ cứ theo âm phổ thông nhất trong tự điển phổ thông nhất là Từ điển Thiều Chửu: 瑱  âm “Thiến”: dùng ngọc trang sức tai. Một âm là “Chấn”: ngọc chấn. Tên "Thiến" không thấy ai dùng vậy thì chọn âm "Chấn".

  Về kiêng húy giữa các tên trong gia đình: Theo cuốn “Hoạch Trạch Nhữ Tộc phả” bản gốc đang được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán – Nôm, ghi rõ tên tác giả là Nhữ Thượng Chân (tên chữ của Nhữ Đình Toản), soạn năm 1745. Theo một số chuyên gia Hán – Nôm, cha Ông tên tự là Nhữ Thượng Chân (汝尚 真) thì chắc chắn tên Ông không thể “gọi” là “Chân” được, vì như vậy là phạm húy.

  Tóm lại:  Chữ viết tên của Ông là 瑱, nhưng việc xác định đúng âm tên là việc không hề đơn giản. Bước đầu, thấy tên “Công Chấn” là có nhiều cơ sở hơn cả, vì ngoài các ý như phân tích trên, tên “Chấn” 瑱 có nghĩa là Ngọc Chấn tên một loại ngọc quý giống như tên của Cha Ông và tên của hầu hết các anh, em trai của Ông đều có nghĩa là một loại ngọc quý: Công Toản 瓚: Một loại ngọc còn thô…; Công Củng 珙: Viên ngọc bích lớn; Công Vũ : Một loại đá đẹp như ngọc; Công Liêu : Bạc, bạch kim loại tốt; Công Bảo: Vật trân quý; Công Cửu : Thứ đá đen đẹp giống như ngọc v.v… 
 
  Sự nghiệp quan trường
  Làm quan triều Lê - Trịnh:  Nhữ Công Chấn tham gia quan trường từ khá sớm. Sắc phong cho Ông ngày 24 tháng 11 năm Cảnh Hưng thứ 30 (1769) ghi: “Sắc Đường An huyện, Hoạch Trạch xã, Hoằng Tín đại phu Nhữ Công Chấn. Vi dĩ hương thí trúng tứ trường, dự tại Nhiệm tử. Dĩ kinh chỉ chuẩn ứng trừ thụ tự thừa chức, khả vi Hoằng Tín đại phu, Quang lộc tự tự thừa, hạ liên. Cố sắc”[2]. Vậy là trước khi có sắc phong này, Ông đã được ấm phong (danh) Hoằng Tín Đại Phu (theo gia phả là năm 1762, khi Cha Ông 60 tuổi), năm 1769, 19 tuổi, Ông đỗ Hương cống được bổ dụng làm quan triều Lê Hiển Tông với chức Quang Lộc tự…, hạ liên (hàm chánh thất phẩm).
     Sắc phong ngày 6 tháng 4 năm Cảnh Hưng thứ 39 (1778) cho mẹ của Ông ghi: “Sắc Đường An huyện Hoạch Trạch xã Phạm Thị Giao vi dĩ phụng sai Hải Dương An Quảng đẳng xứ đốc đồng hàn lâm viện tiếp lý Nhữ Công Chấn thân sinh mẫu chuẩn tứ phong ấm chính phu nhân chức khả phong ấm tiền đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu nhập thị tham tụng binh bộ thượng thư chính thụ quyền phủ sự đồng dự chính vụ đô đốc phủ tả đô đốc trí sĩ phong tặng thái bảo gia ban quốc lão trung phái hầu á thất chính phu nhân cố. Sắc”[3]. (dịch ý: Sắc ấm phong cho Phạm Thị Giao, quê xã Hoạch Trạch, huyện Đường An, mẹ của Đẳng xứ Đốc đồng Hải Dương An Quảng, Hàn Lâm viện… Nhữ Công Chấn, Á thấp chính phu nhân của Đặc tiến kim tử vinh lộc Đại phu Nhập thị Tham tụng Binh Bộ Thượng thư Chính thụ quyền phủ sự, Đồng dự chính vụ Đô đốc Phủ Tả Đô đốc trí sĩ phong tặng thái bảo gia ban quốc lão trung phái hầu, là Chính Phu nhân). Vậy là sáu năm sau khi đỗ Hoàng giáp, năm 1778, Ông đã làm đến Đốc đồng xứ Hải Dương – An Quảng.
    Năm Nhâm Dần (1782), là Lễ Bộ hữu thị lang, Nhập nội thị Thiêm sai, Ông cùng nhóm đại thần như Hoàng Đình Bảo, Trịnh Kiều… phò giúp Trịnh Cán lên ngôi Chúa theo cố mệnh của Chúa Trịnh Sâm trước khi chết. Do sủng ái Đặng Thị Huệ, Trịnh Sâm đã phế bỏ Trịnh Khải (con trưởng), lập con út là Trịnh Cán con Đặng Thị Huệ làm Thế tử, để sau này nối ngôi chúa từ trước khi Trịnh Sâm tái phát bệnh nặng. Khi Trịnh Sâm hấp hối trên giường bệnh (tháng 9), chỉ có Thị Huệ và một số đại thần được phép ra vào. Sách Khâm Định Việt sử Thông giám cương mục viết: “Đình Bảo thưa rằng: “…xin ngay bây giờ cho thế tử nối ngôi và sách phong chính cung Tuyên Phi cùng tham dự xét đoán công việc chính trị, để có mệnh lệnh sẵn sàng"  Sâm nói: "Nhà ngươi nói đúng, nhà ngươi cần phải giúp sức". Đình Bảo nói rằng: "Nhận lời trối trăn lại để giúp việc chính trị, tôi không dám đảm đang một mình, Trịnh Kiều, người rất thân trong họ nhà chúa; Nguyễn Hoàn, bậc sư bảo đại thần; Lê Đình Châu và Phan Lê Phiên đều ở trong chính phủ vẫn có danh dự đức vọng; Trần Xuân Huy và Tạ Danh Thùy đều là bậc tín thần. Xin cho các viên ấy cùng tôi vâng chịu cố mệnh". Sâm y cho, bèn sai Lê Phiên viết tờ cố mệnh, Nhữ Công Điền (Chấn) viết chế sách về Tuyên Phi Đặng Thị. Khi viết xong, Đình Bảo để trong tay áo, vào phủ đường, xin Sâm phê chữ. Lúc ấy bệnh Sâm đã gần tắt thở, bèn cho triệu bọn Trịnh Kiều và Nguyễn Hoàn vào nhận cố mệnh. Khi bọn Kiều vào, Sâm vừa khóc vừa nói: "Tiễu tử này mắc bệnh không sống được nữa. Nay thế tử Cán nối ngôi, rất mong thúc phụ và sư thần cùng lòng giúp rập, vượt qua trong buổi khó khăn". Đình Bảo nhân lấy tờ thư trong tay áo ra dâng trình, Sâm xua tay gạt đi. Đình Bảo nói: "Thư cố mệnh còn chưa ghi tên (tức tên của thế tử), xin cho vương thân là Trịnh Kiều ghi tên thay". Sâm gật đầu. Kiều nghi tên (thế tử) xong, liền dâng trình, thì Sâm đã nhắm mắt rồi, không biết gì nữa”.
     Trịnh Cán nối ngôi chúa, triều chính càng chia rẽ bè phái nặng nề. Tháng 12, kiêu binh tam phủ nổi dậy, Trịnh Cán bị phế truất, lập Trịnh Khải  làm chúa. Lại phiên[4] Nhữ Công Chấn và các quan phò giúp Trịnh Cán bị bãi hết chức về làm dân thường.

 Từ chối làm quan dưới trướng của Nguyễn Hữu Chỉnh: Sau khi bị bãi chức (1782), Ông ngao du đây đó, năm 1786 Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc "phù Lê - diệt Trịnh" theo lời thuyết phục của Nguyễn Hữu Chỉnh. Hữu Chỉnh thường ví mình có chí cả như chim Bằng. Người đương thời gọi là “Cống Chỉnh”, vốn là thuộc hạ của Hoàng Đình Bảo, khi sảy ra loạn kiêu binh tam phủ, Chỉnh trốn vào hàng Tây Sơn, nay lại dẫn Tây Sơn ra "phù Lê - diệt Trịnh". Chúa Trịnh Khải đổ. Nghe theo lời khuyên của Hữu Chỉnh, Nguyễn Huệ trao lại triều chính cho nhà Lê, trở lại Phú Xuân. Rồi lại chuyện Trịnh Bồng quay lại tiếm quyền, vua Lê cho người tìm Hữu Chỉnh hiện đang bị Nguyễn Huệ bỏ rơi tại Nghệ An ra dẹp loạn Bắc Hà. Cơ hội lại đến, Hữu Chỉnh ra đất Bắc dẹp được yên Trịnh Bồng và được vua Lê phong chức Bình Chương[5] Quân Quốc Trọng Sư Đại Tư Đồ Bằng Trung Công.
  Nhữ Công Chấn cùng với một số quan đại thần cũ được Hữu Chỉnh tâu với vua Lê Chiêu Thống cho mời ra làm quan, vốn không phục tài năng và biết rõ chân tướng Nguyễn Hữu Chỉnh không phải là bậc trí dũng, chỉ là kẻ gian thần, mưu cầu lợi ích cá nhân nên Ông đã giả điên từ chối [6]. Hữu Chỉnh lại chiếm Trịnh phủ làm Đại bản doanh, bắt  vua Lê phong cho tước Nhất Tự Công, mở phủ quân, đúc ấn riêng và lập Khu mật viện… Chẳng được bao lâu, Hữu Chỉnh lại bị Vũ Văn Nhậm nhận lệnh Nguyễn Huệ mang quân ra dẹp, Chỉnh bị phanh thây, thế là: Chim Bằng đã gãy cách, sau ít ngày hưởng thụ vinh sang tột đỉnh, đúng theo lời tiên tri của Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm:“Chim Bằng cất cánh về đâu? Chết tại trên đầu hai chữ Quận Công”. 

  Ra làm quan triều Tây Sơn: Khi đại thắng 29 vạn quân Thanh tại Thăng Long mùa xuân Kỷ Dậu (1789), Quang Trung - Nguyễn Huệ thống nhất cả sứ đàng Ngoài và trở thành một anh hùng lớn của thời đại, sau nhiều năm rối ren, nội chiến liên miên, đất nước cũng tạm thời ổn định, với bậc quân vương mới, mà tài năng kinh bang, tế thế, trị quốc, bình thiên hạ đã được khảng định qua các chiến thắng lẫy lừng chống Xiêm, đạp Thanh, dẹp Trịnh… Để phát triển quốc gia, Quang Trung rất chú trọng thu dụng các nhân tài từng phục vụ nhà Lê. Ông ban “Chiếu cầu hiền” có đoạn: "Trẫm đang ghé chiếu lắng nghe, thức ngủ mong mỏi mà có người tài cao học rộng chưa từng thấy đến. Hay Trẫm ít đức không đáng để phò tá chăng? hay đang thời đổ nát chưa thể ra phụng sự?... Trẫm nơm nớp lo nghĩ, một ngày hai ngày cũng có hàng vạn sự việc nảy sinh Ngẫm cho kỹ: cái nhà to lớn - sức một cây không dễ gì chống đỡ, sự nghiệp thái bình - sức một người không thể đảm đương".
      Nhữ Cống Chấn và một loạt các nhà nho, trí thức tiến bộ như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Bá Lan, Phan Lê Phiên, Nhữ Công Liêu… đã ra làm quan, giúp triều Tây Sơn quản lý đất nước. Việc này đã bị những nhà hủ nho lúc bấy giờ phê phán, Phạm Đình Hổ trong Vũ Trung tùy bút đã viết: “Còn như Nhữ Công Chấn ở Hoạch Trạch gặp lúc loạn, giả cách rồ dại để giữ cho sạch mình, không ra làm quan để nhơ mất giá trị cũng là phải. Nhưng đến lúc tuổi tác đã già thì lại muốn cầu cạnh lấy một danh mệnh của Tây Sơn…”. Qua đó thấy rằng, Nhữ Công Chấn là nhà nho tiến bộ, thức thời và dũng cảm.
     Tuy nhiên, năm 1792 vua Quang Trung lại đột ngột qua đời khi sự nghiệp chấn hưng đất nước vẫn còn dang dở. Năm 1802, Vương triều Tây Sơn - Quang Toản nhanh chóng sụp đổ. Sách “Quốc sử di biên” của Thám hoa Phan Thúc Trực soạn đầu triều Nguyễn viêt:
     “Ngày 21 (tháng 6 năm Nhâm Tuất -1802) Thế Tổ (Gia Long) xa giá đến thành Thăng Long… Các quan văn võ triều Lê cũ và quan ngụy Tây (sơn) ra hàng, đến cửa quân bái yết, đều tùy tài bổ dụng. Tiến sĩ Bùi Huy Bích, Nhữ Công Điền (Chấn), Phạm Quý Thích, Lê Huy Du… Huy Bích, Công Điền (Chấn) đều từ về. Còn Quý Thích làm trợ giáo Bắc Thành…”
     Nhữ Công Chấn làm chức quan gì trong triều đình Sơn Tây? từ năm nào? hiện chưa tìm được tài liệu ghi chép. Vậy là sau hai lần ra làm quan dưới hai triều đại khác nhau, sự nghiệp quan trường của Nhữ Công Chấn bắt đầu khi Ông mới 19 tuổi và dừng lại khi Ông cũng đã 52 tuổi. Hơn ba mươi năm quan trường của ông là hơn ba mươi năm đầy biến loạn như thay vua, đổi chúa, nội chiến, chiến tranh ngoại bang…
     Hậu thế nhắc đến Ông chắc chắn không chỉ bởi thành tích đỗ đại khoa nho học và những năm tháng quan trường đầy biến động, mà còn là một sự nghiệp thơ văn khá ấn tượng.   
 
 Sự nghiệp thơ văn Nhữ Công Chấn
 Theo lời giới thiệu đầu cuốn “Hoạch Trạch Nhữ tộc phả”[7] thì trước đây, cuốn tộc phả này gồm 3 phần, trong đó có phần 3 là thơ văn của các người trong họ, hay trong phần Phụ dị - điểm các con của tiến sĩ Nhữ Đình Toản, có ghi Hoàng giáp Nhữ Công Chấn và Hương cống, Hội thí tiến triều Nhữ Công Vũ (anh trai Công Chấn) là hai người giỏi thi ca. Hai Ông đều có tập thơ để lại, tuy nhiên hiện nay, cả hai tập thơ này đều đã thất lạc.
  Qua khảo cứu, bước đầu tìm được một số lượng không nhỏ các tác phẩm thơ văn của Nhữ Công Chấn đã được tuyển chọn đăng trong các tuyển tập, bộ sưu tầm, tạp chí, hoặc được trích dẫn trong các tác phẩm của các tác giả khác.
  Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm có tập “Quốc âm phú” ký hiệu AB.184, trong đó có thơ, phú của các tác giả: Nguyễn Đình Tố, Nguyễn Bá Lân, Phạm Gia Huệ,  Nhữ Công Chấn, Bằng Quận (tức Nguyễn Hữu Chỉnh), Nguyễn Khản, Nguyễn Duy Hợp.
  Sách "Việt thi tục biên” do Nguyễn Thu (1799 - 1855) [còn có tên là Nguyễn Bảo] soạn vào khoảng đầu đời Nguyễn (thế kỷ XIX). Có 3 nhà thơ ở bản A nằm ở cuối quyển II là Nhữ Công Trấn (Chấn), Phạm Nguyễn Du, Lê Huy Trâm.
  Tác phẩm Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ soạn đầu thế kỷ 19, có trích đăng nhiều thơ chữ Hán của Nhữ Công Chấn trong các bài như: Nhữ Công Tung, Lý Đạo Tái , Cao Tướng Công… đây là các bài thơ Ông viết trong khoảng thời gian không làm quan (sau khi bị bãi hết chức - 1782), Ông ngao du đây đó và viết khá nhiều thơ văn trong giai đoạn này.
  Đến thăm mảnh đất nơi trước đây là nhà của Nhập nội Thượng thư Cao Tướng công, tên là Cao Y (ở làng Cao), nhìn ngắm di tích nền nhà của vị Thừa tướng, truyền rằng đó là nơi chàng Đặng Xuân đọc sách, nàng Ngọc Châu dệt cửi. Nhữ Công Chấn đã cảm hứng viết thơ rằng:
Phiệt duyệt cựu truyền Thừa tướng nữ
Phong lưu trường thuộc trạng đầu nhân
Nghĩa là
Gái dòng phiệt duyệt quan Thừa tướng
Người nếp phong lưu bảng Trạng nguyên
 
  Ông có một bài thơ thất ngôn bát cú viết tặng Nàng Cung phi Điểm Bích (cùng quê) vốn nổi tiếng tài sắc, được vua Trần Anh Tông cử đi Yên Tử để thử thách đạo hạnh của Trạng nguyên thiền sư Huyền Quang tức danh sĩ Lý Đạo Tái, Nàng Điểm Bích đã làm bài thơ “ghẹo tình” nổi tiếng. Nhữ Công Chấn cảm mến tài sắc và xót xa cho thân phận hồng nhan của nàng. “Bài thơ toan đem khắc vào bia để chôn trước mộ xong lại thôi. Trong đó có các câu:
Giai nhân lạc địa ủy kim điều.
nghĩa là
Giai nhân đày đọa rụng bông vàng
Lại có câu
Tằng hướng tiêu phòng khoa yểu điệu,
Khước lai sơn tự bạn không thiền.
nghĩa là
Phòng tiêu thuở trước từng khoe đẹp,
Chùa núi sau này tựa cảnh không..”
 
  Khi qua thăm nền nhà và mộ Tiến sĩ Nhữ Công Tung ở làng Nhữ Thị, Ông đã cảm hứng viết bài thơ sau:
Cổ tự môn tiền thập mẫu ôi
Truyền văn thừa tướng cựu đình đài
Vô danh dã thảo mai u kính
Bất phẫn nhàn hoa lạc vãn đài
Lễ bộ tam triều công đẩu tuấn
Nam Quan lưỡng độ sứ thiều hồi
Công danh phú quí kim hà tại
Tịch mịch thu phong thổ nhất đôi.
Dịch
Mười mẫu quanh chùa đất rộng thay
Nhà quan tướng cũ đấy là đây
Nghĩ vùi cỏ nội nào ai biết
Rêu lấp hoa tàn nọ kẻ hay
Bộ Lễ ba triều ngôi chót vót
Cửa quan hai độ sứ xa khơi
Công danh phú quí còn đâu nữa
Hiu hắt hơi may nhuốm cỏ dày.
 
  Sách “Di sản văn chương Văn miếu – Quốc Tử Giám Hà Nội” NXB Hà Nội 2010, đăng 4 bài thơ, phú của Nhữ Công Chấn đó là: “Lễ tế Đinh tại Quốc Tử Giám vào mùa xuân, kính ghi một bài thơ luật” thơ chữ Hán, “Quan Phu Tử Phú (Thận Trai), “Tam cương ngũ thường”, “Tam kiệt phú” thơ chữ Nôm.

Bài thơ: Trọng xuân Quốc Tử Giám đinh tế cung kỷ nhất luật
Quốc Tử nghi văn bí,
Xuân đinh tự sự khâm.
Vân thiều thanh trắc giáng,
Trở đậu túc lai hâm.
Phúc trù như thiên địa,
Long sùng tự cổ câm.
Cung tường thiên nhận thuý,
Giang Hán vọng trung thâm.


Dịch Nghĩa:
Lễ tế Đinh tại Quốc Tử Giám vào mùa xuân, kính ghi một luật
Nghi lễ ở Quốc Tử Giám, cái Văn thật rực rỡ nghiêm trang
Việc hành lễ trong buổi tế Đinh vào mùa xuân rất kính cẩn
Mây Thiều trong xanh, đang trắc giáng nhập thần
Đồ tế lễ (trở đậu) xếp đặt cẩn thận, kính dâng Thần đến hâm hưởng
Màn che rộng như trời đất
Ấy là cái lễ long trọng tôn sùng bậc Thánh đã có từ thời xưa
Nhà học cung tường sâu ngàn nhận
Ở Giang Hán mà vẫn ngóng vọng vào đất Trung Nguyên thăm thẳm.

 
Dịch thơ:
Lễ tế Đinh ở Quốc Tử Giám giữa xuân, kính ghi một bài thơ luật
(Người dịch: Phan Văn Các  đăng trên Tạp chí Hán Nôm số 4 (101), 2010)
Quốc Tử văn chói lọi
Xuân Đinh tế rỡ ràng
Mây Thiều đang trắc giáng
Mâm cỗ thật nghiêm trang
Màn rộng như trời đất
Lễ trọng xưa nay vang
Cung tường ngàn nhận thẳm
Nhìn sâu hút Hán Giang.
 
   Sự nghiệp khoa bảng và thơ văn của Nhữ Công Chấn rất ấn tượng và cần tiếp tục được khảo cứu, nghiên cứu chuyên sâu, giúp làm rõ hơn những đóng góp của Ông cho nền thi ca cổ đại nước nhà.

 
*
*      *
   Ngoài sự nghiệp khoa bảng, thơ văn… Ông còn được ghi nhận là người có tâm và có công tiếp nối truyền thống gia đình, tu tạo và mở rộng di tích tâm linh quan trọng, một trong tứ trấn của  kinh thành Thăng Long –  Đình Bạch Mã. Năm Chính Hòa thứ 8 (1687) Cụ nội Ông là Tiến sĩ Nhữ Tiến Dụng và Ông nội Ông là Tiến sĩ Nhữ Đình Hiền đã tham gia đóng góp tiền của và đứng ra tổ chức xây dựng lại toàn bộ Đình Bạch Mã đã bị đổ nát do chiến tranh và thời gian… Ngày 2 tháng 9 năm Cảnh Hưng thứ 34 (1773) Ông lại làm giấy hiến toàn bộ khu đất rộng 16m, dài 108m bên cạnh Đền (do cha ông để lại) cho đền Bạch Mã để xây dựng khu văn chỉ của Đền. Ghi nhận công lao của gia đình Ông, hiện trong Đền có bia đá ghi công đức và ban thờ Tiến sĩ Nhữ Tiến Dụng (thờ hậu)[8].
  Căn cứ theo văn bia và câu đối cổ tại từ đường các dòng họ Nhữ thôn Tê Quả, Bối Khê, xã Tam Hưng, Hà Nội (Hà Tây), những người họ Nhữ tại thôn Hoạch Trạch (Hải Dương) và thôn Tê Quả, Bối Khê (Hà Nội) đã khảng định là Hoàng giáp Nhữ Công Chấn đã về định cư và là ông tổ các dòng họ Nhữ tại đây.
  Sách “Quốc sử di biên” của Phan Thúc Trục viết:
  “Ất Sửu năm thứ 4 (1805)… Mùa thu, tháng 7, mồng 10, bắt đầu đặt viên Đông đường và viên Tây đường ở các phủ…
…Hoàng Giáp đời Lê cũ Nhữ Công Điền (Chấn) mất.”
  Vậy có thể khảng định là Hoàng giáp Nhữ Công Chấn mất vào trung hoặc hạ tuần tháng 7 năm Ất Sửu (1805).

  Hoàng Giáp Nhữ Công Chấn là cháu 10 đời của Tiến sĩ Thượng thư Nhữ Văn Lan (1443-1523), là thế hệ thứ tư liên tiếp và là một trong năm người đỗ đại khoa của gia đình họ Nhữ ở thôn Hoạch Trạch (Hải Dương). Sự nghiệp khoa bảng, sự nghiệp thơ văn của Hoàng giáp Nhữ Công Chấn góp phần tô thắm truyền thống hiếu học của cha ông. Tuy nhiên gia phả dòng họ của Ông chỉ ghi chép vẻn vẹn được vài dòng trong phần điểm các người con của Tiến sĩ Nhữ Đình Toản. Phần vì sự nghiệp quan trường của Ông gặp nhiều trắc trở, một lần bị cắt chức do tham gia phò giúp chúa Trịnh Cán, một lần ra làm quan triều Tây Sơn, mà với quan điểm cổ hủ, bị cho là ngụy triều. Việc nghiên cứu để từng bước làm rõ hơn về cuộc đời và sự nghiệp của Ông là một việc làm cần thiết và là trách nhiệu của hậu thế chúng ta.   
Nhữ Đình Văn
Chú thích:
[1]. Dâng sách “Hoàng Việt Thống chí”: theo báo Khoa học và Tổ quốc số   2-1991. Nhữ Đình Quỳ sưu tầm.
[2],[ 3]. Các tờ sắc phong này dòng họ Nhữ thôn Hoạch Trạch đang lưu giữ.
[4]. Lại Phiên: Theo quan chế thời Lê – Trịnh: năm 1600, Trịnh Tùng bãi bỏ chức Tả, Hữu thừa tướng và Bình chương của thời trước, đặt ra chức Tham tụng làm việc Tể tướng, Bồi tụng (phó cho Tham tụng). Quyền lực của Tham tụng rất lớn, đều do chúa Trịnh tiến cử từ các viên Thượng thư hoặc Thị lang lên. Tham tụng và Bồi tụng đảm đương trọng trách trong phủ Chúa (còn gọi là Phủ Liêu). Dưới Tham tụng và Bồi tụng, chúa Trịnh đặt thêm các Phiên, đến năm 1718, đủ 6 phiên (lục phiên) tương đương với lục Bộ bên cung vua. Đứng đầu các Phiên là Tri phiên tương đương Thượng thư bên lục bộ. Triều đình vua Lê cuối cùng chỉ còn vài chức quan hư hàm làm nhiệm vụ nghi thức.
[5]. Bình Chương: Năm 1787, họ Trịnh đổ, Lê Chiêu Thống bỏ chức Tham tụng, đặt lại chức Bình chương (tể tướng).
[6]. Theo Hoàng Lê nhất thống chí
[7]. Hoạch Trạch Nhữ Tộc phả do Tiến sĩ Nhữ Đình Toản khởi soạn năm 1745.
[8]. Theo Bản dịch văn bia đền Bạch Mã và bản dịch giấy hiến đất do đền lưu giữ (dịch năm 1946) để trình Chủ tịch UBHC TP Hà Nội. Ông Nhữ Đình Tố sưu tầm.

 
Tài liệu tham khảo:
- Khâm Định Việt sử thông giám cương mục – Quốc sử quán Triều Nguyễn.
- Lịch triều hiến chương loại chí – tác giả Phan Huy Chú.
- H.Trạch Nhữ Tộc phả - tác giả Nhữ Đình Toản (b.dịch của GS Hà Văn Cầu).
- Văn bia Quốc Tử  giám Hà Nội – tác giả Đỗ Văn Ninh dịch.
- Vũ trung tùy bút – tác giả Phạm Đình Hổ.
- Các sắc phong họ Nhữ thôn Hoạch Trạch.
- Tạp chí Hán – Nôm số 4 (101), 2010.
- Bản dịch văn bia đền Bạch Mã và Bản dịch giấy hiến đất. Ông  Nhữ Đình Tố sưu tầm.
- Hoàng Lê nhất thống chí – tác giả Ngô Gia văn phái(tiểu thuyết lịch sử).
- Các bài báo, bài viêt khác trên các báo trung ương, địa phương.


 
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

GIới thiệu

Bài 3: LỜI CẢM ƠN

    LỜI CẢM ƠN   Để đáp ứng cho các  hoạt động của Hội đồng dòng họ Nhữ Việt Nam như: - Thăm viếng “vấn Tổ, tìm Tông”, giao lưu  giữa Hội đồng dòng họ Nhữ Việt Nam với các địa phương, tìm hiểu truyền thống, cội nguồn để viết bài giới thiệu về họ Nhữ các nơi; - Duy...

Đăng Nhập

Bài viết mới nhất

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HỌ NHỮ VIỆT NAM
www.honhuvietnam.com      E-mail: honhuvietnam@gmail.com

Hotline:                                Fax : +84 4 3 863 1091