17:04 EDT Thứ sáu, 20/09/2019

Danh mục bài viết

Gủi bài viết

Các bài viết

Trang nhất » Bài viết » Lịch sử, danh nhân...

SỰ TÍCH, CÔNG TRẠCH CỦA MỘT SỐ CỤ TỔ HỌ NHỮ

Thứ ba - 28/05/2013 00:03

Lời tác giả: Đây là bài nói chuyện theo sự phân công của Trưởng họ và Hội đồng Gia tộc vào tối ngày 9 tháng giêng năm Quý Tỵ - 2013 (ngày tế tổ đầu xuân) tại nhà ông Trưởng họ, với sự tham gia của mọi người trong gia tộc và một số đoàn khách. Do thời gian có hạn, bài nói chuyện chỉ trích dẫn, nêu sơ lược những nét chính các sự tích, công trạng của các Cụ Tổ được ghi chép trong các bộ sách sử, các bộ gia phả, sắc phong, thần tích, thần sắc… và tất nhiên, bài nói chuyện này không phải là tiểu sử hay chân dung đầy đủ, hoàn chỉnh về các Cụ Tổ vì để trình bày thật đầy đủ về tiểu sử chỉ một cụ tổ thôi cũng phải mất ít nhất 2-3 giờ rồi, trong khi toàn bộ buổi nói chuyện dự kiến chỉ diễn ra dưới một giờ. Buổi sinh hoạt cộng đồng này, trước đây vẫn được tổ chức hàng năm vào tối ngày 9 tháng giêng, song đã bị gián đoạn hơn hai mươi năm nay, nay lại được dòng họ tái tổ chức và có kế hoạch sẽ duy trì đều đặn hàng năm. Đây là một dịp để mọi người trong họ cùng nhau ôn lại truyền thống hiếu hộc, tài năng, đức độ và công trạng của các Cụ Tổ, góp phần giúp thế hệ trẻ hiểu hơn về cha ông mình.
 

Ông Nhữ Đình Văn đang nói chuyện về Sự tích, công trạng của các Cụ Tổ tối ngày 9 tháng Giêng năm Quý Tỵ tại nhà ông trưởng họ Nhữ thôn Hoạch Trạch.

 
SỰ TÍCH, CÔNG TRẠCH CỦA MỘT SỐ CỤ TỔ HỌ NHỮ
 Kính thưa…
    Làng Hoạch Trạch (tên nôm là làng Vạc), xã Thái Học, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương (trước đây là xã Hoạch Trạch, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương), có 7 người đỗ tiến sĩ trong các kỳ thi nho học, về số lượng đứng hàng thứ 4 trong huyện sau làng Mộ Trạch với 36 tiến sĩ, làng Ngọc Cục với 8 tiến sĩ, làng Lương Đương với 8 tiến sĩ, nhưng làng Hoạch Trạch theo lưu truyền từ xưa tới này vẫn được mọi người trong huyện đánh giá là có vị thế cao chỉ đứng sau làng Mộ Trạch do có có nhiều người không chỉ đỗ đại khoa, mà còn tài giỏi, làm quan to, có nhiều công lao với triều đình, với nhân dân, nhiều sự tích, công trạng được lưu truyền với câu ca “Hoạch Trạch khí tàng, Anh hùng xuất thế”. Trong số 7 vị đỗ tiến sĩ của làng, họ Nhữ ta đóng góp 5 vị, là một dòng họ khoa bảng nổi tiếng.
 
Đời 1: Tiến sĩ Nhữ Văn Lan - Cụ thuỷ Tổ khai khoa họ Nhữ Việt Nam.
Thuỷ Tổ của dòng Họ Nhữ thôn Hoạch Trạch ta là Cụ Nhữ Văn Lan quê quán xã An Tử Hạ, Tổng Hán Nam, huyện Tiên Minh, phủ Nam Sách, trấn Hải Dương, nay là thôn Nam Tử, xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng, TP Hải Phòng.
Theo tài liệu “Kiến An tỉnh, Tiên Lãng huyện, Hán Nam tổng, An Tử - Hán Nam nhị xã thần tích” (sau đây gọi tắt là Thần tích), hiện đang được Viện Nghiên cứu Hán Nôm lưu trữ, bảo quản, bản dịch của Viện khoa học xã hội Việt Nam thì Cụ tên huý là Thái, tên tự là Lan. Cụ sinh ngày 5 tháng 8 năm Quý Hợi (1443), mất ngày 19 tháng 10 năm Quý Mùi (1523). Làm quan đến Thượng Thư Bộ hộ, khi mất được phong Phúc Thần. Cha của cụ Nhữ Văn Lan là Cụ Nhữ Công Thực (có tài liệu chép là Văn Thực) là một nhà nho nghèo, thật thà, nhân đức.
Cuốn “Hoạch Trạch Nhữ Tộc phả” (sau đây gọi tắt là gia phả), đã ghi lại sự tích hai cụ thân sinh của của Lan đã lượm được một nồi chân vàng dưới gốc cây dừa đổ của người Tầu dấu lại đã nhiều năm, khi người Tầu qua tìm vàng, hai cụ đã trả lại toàn bộ và kiên quyết không lấy một phân nào khi họ muốn biếu lại một phần tài sản mà hai cụ lượm được. Cảm hoá tấm lòng nhân đức, thật thà của hai cụ, Những người phương Bắc đã để lại cho một “kiểu đất âm phần” để đền ơn và dặn rằng: “Kiểu đất này là kiểu “bần cục” nhưng đời nối đời làm công khanh đấy, vả lại phía trước ngôi mộ có chữ Vương () có thể phát phúc giới đó”.
Người sau có thơ rằng:
Ký hay tích thiện hựu từ kim
Chân thị hảo nhân hựu hảo tâm
Tha nhật công khanh tương kế tiến
Thử thời đương hữu quý thăng kim
Dịch nghĩa:
Đã hay tích thiện lại hay từ vàng
Đó là người tốt nết lại tốt lòng
Ngày sau con cháu nối nhau làm công khanh
Chính là nhờ tổ tiên biết có thứ (thật thà, nhân đức) còn quý hơn vàng.
Ông Nhữ ở đất ấy, vừa được ngoài trăm ngày thường nằm mộng thấy một chú bé từ trên trời xuống, đứng ở đầu giường tự xin làm con. Chú bé đọc một câu thơ rằng:
Cao phụng Hoàng thiên hứa giáng trần
Sinh phù thanh chúa, tử phù dân
Công gia phúc chỉ tòng tư thủy
Tân ký tân hề, hựu nhật tân.
Dịch nghĩa:
Vâng trên Hoàng Thiên cho phép giáng trần
Sống phò thánh chúa, chết phù hộ nhân dân
Nhà ông dấu phúc từ đây bắt đầu
Đã đổi mới, lại càng ngày càng mới.
Đọc xong chú bé liền nhập vào bụng bà Nhữ… Từ đó bà có mang, đến hẹn kỳ sinh được một con trai, tai to, mặt vuông, mày thanh, mắt đẹp, tam đình bình mãn, ngũ nhạc triều qui”(1).

Cậu bé “Vâng trên Hoàng Thiên” giáng trần đó chính là Nhữ Văn Lan, sau này lớn lên thành danh tiến sĩ, bảng vàng, trở thành Vị khoa bảng đầu tiên của huyện tiên Minh, Ông tổ khai khoa của họ Nhữ Việt Nam, mở đầu cho truyền thống hiếu học, khoa cử của huyện Tiên Minh và dòng họ Nhữ Việt Nam.
Thần tích và gia phả ghi lại: Từ khi còn nhỏ, Nhữ Văn Lan đã được cho học chữ Thánh hiền, năm 17 tuổi lại cho đi tầm sư, học đạo, dùi mài kinh sử. Ông đã bộc lộ tư chất “thông minh xuất chúng, dĩnh ngộ dị thường, thiên kinh vạn quyển làu thông, ngũ điển tam phần quán triệt…”.
Năm Quang Thuận thứ tư (1463), Nhữ Văn Lan vừa tròn 20 tuổi, vốn đã nổi tiếng thơ văn trong vùng lại chăm chỉ đèn sách nhiều năm đã ra ứng thí, và Ông đã vinh dự là một trong 44 vị đại khoa(2), bảng vàng giữa thời kỳ cực thịnh của nền nho học Việt Nam – Triều vua Lê Thánh Tông.
Cụ được ghi danh đỗ “Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân” tại bài ký đề tên tiến sĩ Khoa  Quý Mùi (1463), Niên hiệu Quang Thuận năm thứ 4, đời vua Lê Thánh Tông (Bia số 3, Văn bia Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội) do Hàn lâm viện Thị giảng, Đông các Hiệu thư Đào Cử soạn. Bia dựng năm Hồng Đức thứ 15 (1484). Khoa thi này có hai nhà toán học xuất sắc của Việt Nam thi đỗ là Trạng Nguyên Lương Thế Vinh (huyện Thiên Bản) và Hoàng giáp Vũ Hữu (quê Mộ Trạch, Bình Giang), Cụ Phạm Lỗ người xã Lôi Dương (nay là thôn Sồi Cầu, xã Thái Học) đỗ Hoàng giáp và đỗ cao thứ 4 từ trên xuống (xã Lôi Dương là nơi sau này Cụ Nhữ Huyền Minh, con trai tiến sĩ Nhữ Văn Lan về định cư).

Vị Quan tài năng, thanh liêm, chính trực
Đỗ tiến sĩ, Nhữ Văn Lan ra làm quan triều Lê Thánh Tông, Thần tích ghi Ông “lấy đức cương chính mà giữ mình, lấy đức trung cần mà tu dưỡng. Vua rất mực sủng ái ông”, “được phong Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu…, Văn chương được thiên hạ biết đến, đức trung chính được nể trọng trong triều đình”... Gia phả ghi lại về Cụ: “Người thường giữ điều cương chính làm người, trung thần làm tôi, được vua sùng ái, trải thăng nhiều chức rồi lên đến Thương thư Bộ Hộ”.
Cụ là một vị quan tài năng, thanh liêm, chính trực, giúp triều đình giữ nghiêm kỷ cương phép nước, đóng góp nhiều công lao vào sự hưng thịnh của vương triều Lê thời bấy giờ.
 
Vị Phúc Thần của  quê hương
Gia phả ghi: “Tới khi 60 tuổi, Ông mới xin vua về nghỉ dưỡng nhàn, Vua bèn ưng cho và ban thưởng gấm vóc, vàng bạc. Người về đến quê hương, đem lộc của vua ban chia cho bè bạn cố nhân, rồi xây dựng gia đường làm nơi phụng thờ tiên tổ cha mẹ. Người lại lập một ngôi sinh từ ở khu Đoài để làm nơi hưởng thần trăm năm của mình. Người còn để lại cho dân xã ba nén vàng làm của hương khói về sau. Từ đó người đi về nhàn du ở đất khu Đoài, khuyên bảo mọi người về việc nông trang, khuyên việc tiện lợi, trừ bỏ điều hại, rất là có công đối với dân”.
Hai mươi năm sống trên mảnh đất quê nhà, với tài năng đức độ, Cụ đã đem phần tâm lực cuối cùng để giúp đỡ dân làng xây đắp truyền thống giáo dục, học hành, hướng dẫn dân làng đào kênh, xây cầu cống dẫn thuỷ nhập điền, khai khẩn hoang hoá. Với tư tưởng bao trùm “khoan nhân- thi đức” Tiến sĩ Thượng Thư Nhữ Văn Lan đã cảm hoá thuyết phục mọi người, nêu tấm gương sáng cho các thế hệ ngàn đời.
Thần tích ghi: “Ông mất tại chính tẩm, dân ở khu Đoài tưởng nhớ ơn đức, lập miếu để thờ, được vua Lê ban thưởng cho mĩ tự là Hộ bộ thượng thư Nhữ tướng công Vương trực Bác đạt Thượng đẳng phúc thần...”. Cụ là vị Thành Hoàng của quê hương An Tử Hạ.
Gia phả của họ Nguyễn hậu duệ Nguyễn Bỉnh Khiêm ở An Tử hạ ghi lại: “phu nhân hồi An Tử Hạ, ỷ phụ thân giáo dưỡng đạt nhi tam tuế”, cho thấy Tiến sĩ Nhữ Văn Lan và con gái Nhữ Thị Thục là người có công nuôi dạy và hình thành nhân cách Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm khi còn nhỏ.
Khi còn trẻ, Ông đem tài năng phò giúp vua, xây dựng nền thịnh trị, về già thì mang hết tâm sức còn lại giúp quê hương, dân làng học tập, làm ăn sinh sống, khi chết Ông hiển Thánh Thần đêm ngày phù hộ cho dân thôn bình an, thịnh vượng. Công đức của Cụ rộng mở, bao trùm. Tiến sĩ Nhữ Văn Lan là một biểu tượng văn hóa lớn của xứ Đông.
Trên quê hương An Tử Hạ hiện nay còn các di tích sau đây liên quan đến Cụ Thuỷ Tổ Nhữ Văn Lan:

- Khu Mả Nghè gồm ba ngôi mộ Cụ Ông, Cụ Bà Nhữ Văn Lan và con gái Nhữ Thị Thục.Di tích Đình Đông (thờ Lưỡng thần – Đình Hai giáp): Hộ bộ thượng thư Nhữ tướng công Vương trực Bác đạt Thượng đẳng phúc thần (tức Nhữ Văn Lan) của giáp Đoài và Thiên Quan Hoè Vương của giáp Đông.Di tích Đình Vồng Si (Thờ thần Hoàng là Cụ Nhữ Văn Lan)
-
Từ Đường Nguyễn Nhữ.
- Chùa Bảo Khánh nơi có giếng ngọc Thiên Châu do bà Nhữ Thị Thục khơi mạch
- Nhà thờ Họ Nhữ
- Mộ Cụ Tổ phát tích
- Mộ Cụ Tổ Nhữ Công Thực (cha Cụ Nhữ Văn Lan)
Trong một dịp khác, tôi xin được trình bày rõ, chi tiết lịch sử, sự tích các di tích trên.
 
Cụ Nhữ Văn Lan có ba người con. Người con trai cả, theo lưu truyền mất sớm khi con nhỏ, người con trai thứ là Nhữ Huyền Minh, làm tri huyện Lục Ngạn, sau di cư về xã Lôi Dương (Sồi Cầu) huyện Đường An, Người con gái là Nhữ Thị Thục là mẹ Trang Nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm là mọt người phụ nữ kỳ tài và khả kính. Sự tích về Cụ bà Nhữ Thị Thục thì rất nhiều, trong một dịp khác, tôi xin trình bày mọi người trong họ tộc nghe.
 
Đời 2: Cụ Nhữ Huyền Minh (Huyền Minh Công) - Cụ Tổ khai nghiệp dòng họ Nhữ ta tại đất Bình Giang.
Gia phả ghi: “con trai thư hai (của Cụ Nhữ Văn Lan) là Huyền Minh Công rời về ở xã Lôi Dương, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng làm nhà ở Đông thôn, từ đó thế hệ họ Nhữ sinh sôi ngày càng nhiều”. Cụ Nhữ Huyền Minh làm tri huyện Lục Ngạn, mả táng ở xứ Mả Quan, giỗ ngày 15/7, Hiện nay mộ chí đã được tôn tạo trong khuôn viên trường tiểu học xã Thái Học.
 
Đời 3: Cụ Nhữ Văn Xuyên (Đạm Hiên Công) - Cụ Tổ với sự tích trả lại túi vàng
Cụ huý là Xuyên, tự là Đạm Hiên. Gia phả còn ghi lại sự tích về việc khi còn trẻ, Cụ theo thầy học ở phường Đồng Xuân - Tràng An, Cụ đã nhặt được một túi vàng khi nghỉ ở điếm “Phù lưu”. Túi vàng có cả giấy tờ, cụ biết đó là vàng của kẻ nha môn chuyên giữ đồ vật, vâng lĩnh vàng để gia công đồ cống nạp, Cụ liền quay lại chỗ nhặt được vàng, ngồi đợi nửa ngày để trả lại cho người bỏ quên. Người quan nha giữ đồ vật trên làm tờ khải trình bày lên bề trên, Cụ được xưng thưởng đặc ân, gia ban chức “giám thủ kho vàng” nhưng Cụ hết sức từ chối.
Cụ Đạm Hiên Công làm quan tri phủ Trường An và tri phủ Bắc Hà. Sinh thời Cụ giỏi về thiên văn, địa lý. Giỗ ngày 5/12, mộ táng Mả Phóng, xã Lôi Dương (nay là thôn Sồi Cầu, xã Thái Học).
 
Đời 4: Nhữ Trung Tông (Thiện Tính Công)
Tự là Thiện Tính, Cụ làm tri huyện Giao Thuỷ, sinh năm Đinh Tỵ, thọ 63 tuổi, giỗ ngày 14/5, mộ táng tại lăng thôn Như, xã Đình Tổ (thôn Như nay thuộc xã Bình Xuyên).
 
Đời 5: Nhữ Đình Trị (Nhã Trực Công)
Cụ huý là Trị và Sạ, tự Nhã Trực, sinh năm Bính Tý, giỗ ngày 4/7, mộ táng ở xứ Mả Phóng, xã Lôi Dương (nay là thôn Sồi Cầu, xã Thái Học). Năm Quý Mùi, có tằng tôn là Thọ Quận Công được truy phong tặng Hàn Lâm Thừa chỉ. Năm Giáp Ngọ truy tặng Quy Phụng đại phu, Công Bộ Hữu Thị Lang, Khánh Nguyên. Năm Nhâm Ngọ, Đời Cảnh Hưng thứ 22 (1761) có Huyền tôn có công được truy phong tặng Tướng Quân, Thần Vũ tự vệ quân vụ, tham đốc Khánh Nguyên Hầu.
 
Đời 6: Cụ Nhữ Văn Lượng (Văn Nghị Công)
Cụ Huý là Lượng, tự Văn Nghị, hiệu Trực Thông. Sinh năm Bính Dần, mất ngày 6 tháng 1 năm Kỷ Sửu. Mộ tại Hạ Bì (nay thuộc xã Cổ Bì). Năm Quý Mùi, có cháu Thọ Quận Công, được ấm phong Hoằng Tín đại phu, đại lý tự khanh. Năm Giáp Ngọ tái gia tặng Đặc tiến Kim Tử Vinh Lộc đại phu, Đông các đại học sĩ, Trạch Nguyên Tử. Năm Bính Tý, Cảnh Hưng thứ 16 (1755) tái gia tặng Vi Chiêu tướng quân thần vũ, tứ vệ quân vụ, Đô Đốc Hầu, tước Thượng Giai.
 
Đời 7: Cụ Tiến sĩ Nhữ Tiến Dụng (Giới Hiên Công) - Cụ Tổ khai nghiệp dòng họ Nhữ tại đất Hoạch Trạch
Cụ huý Lộng, tự Nột Tẩu, hiệu Giới Hiên, tên đi thi là Tiến Dụng. Sinh giờ Tuất ngày 22 tháng 9 năm Quý Hợi (1623). Cụ đỗ Hương Cống năm 19 tuổi, đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất năm 42.
Tại Văn bia Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội, Tên của Cụ được ghi danh tại bài ký đề tên tiến sĩ khoa thi Giáp Thìn, niên hiệu Cảnh Trị năm thứ 2 (1664), Đời vua Lê Huyền Tông (bia số 43), do Cẩn sự tá lang, Hàn Lâm Viện Hiệu thảo, Nguyễn Nham soạn, bia lập ngày 2 tháng 3 niên hiệu Vĩnh Thịnh năm thứ 13 (1717).
Cụ làm quan đến Lễ khoa đô cấp sự trung, phong tặng Hoằng Tín Đại Phu Thái Thường Tự khanh. Gia tặng Đặc Tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu, Đô Ngự sử, Công Bộ Thượng Thư, tước Liên Khê Hầu.
Gia phả ghi nhiều sự tích về Cụ như Sự tích Cụ được Thần Ông Đống phù hộ: “Lúc nhỏ cha mẹ mất sớm, ông ngoại là người họ Chu đưa về nuôi tại làng Hoạch Trạch, năm lên 6, 7 tuổi, cho theo học hai ông thầy đồ là Viên Công và Viên Lễ, lớn lên theo học Thái sư công người thôn Thượng, xã Mộ Trạch, Thường khi đi học Cụ hay về qua xứ Đông Hường, đất đó vốn có thần thiêng (tục gọi là Ông Đống). Mỗi lần đi đến, thấy một vầng sáng như đuốc đi trước dẫn đường, Cụ biết rằng Cụ được xứ thần trợ giúp. Sau này con trai Cụ là Cụ Thọ Quận Công Nhữ Đình Hiền, đi Bắc sứ trở về xong việc, làm tờ khai tâu lên xin phong vị thần ấy là Uy dũng Đại Vương”.
Do xã trưởng Lôi Dương bức bách Cụ nhiều, nên khi đi thi Cụ ghi tên đăng ký quê quán tại quê ngoại, xã Hoạch Trạch, sau con cháu Cụ lập nghiệp tại xã Hoạch Trạch (nay là thôn Hoạch Trạch). Cụ là Cụ Tổ khai nghiệp họ Nhữ tại đất Hoạch Trạch.
Cụ là người nổi tiếng chất phác, thuần hậu, Được Triều đình giao phó làm giám thí nhiều kỳ thi Hương, Thi Hội. Cụ giỏi về địa lý, năm Nhâm Tuất có công xem đất đặt Vương phủ cho Chúa Trịnh.
Năm Chính Hòa thứ 8 (1687), Cụ cùng con trai là Tiến sĩ Nhữ Đình Hiền đã tham gia đóng góp tiền của và đứng ra tổ chức xây dựng lại toàn bộ Đình Bạch Mã đã bị đổ nát do chiến tranh và thời gian, hiện vẫn còn bia ghi công lao và ban thờ (thờ hậu) tại đình Bạch Mã.

Cụ mất ngày 20 tháng 6 năm Kỷ Tỵ (1689), thọ 67 tuổi, mộ táng tại Mả Phóng, xã Lôi Dương (nay là thôn Sồi Cầu, xã Thái Học).
 
Cụ Tiến sĩ Nhữ Đình Hiền (Thọ Quận Công) - Ông Tổ nghề lược tre Việt nam
“Văn Chương Lê Anh Tuấn
Chính sự Nhữ Đình Hiền”

Là câu ca, ca ngợi về tài “văn chương” của Tiến sĩ khoa Giáp Tuất (1694) Lê Anh Tuấn, quê Mai Trai, Vạn Thắng, Ba Vì, Hà Nội làm quan đến Tham Tụng, Thượng Thư Bộ Hộ, Thái Tử, Thái Bảo và tài “chính sự” của Tiến sĩ khoa Canh Thân (1680) Nhữ Đình Hiền, làm quan đến Tham Tụng, Thượng Thư Bộ Hình, Năm Cảnh Hưng thứ 25 (1764) được truy phong Lễ Bộ Thượng Thư, Thái Phó Thọ Quận Công.
Cụ Nhữ Đình Hiền (đời 8) tên khi đi thi là Nhữ Tiến Hiền, là con trai thứ ba của quan Giới Hiên Công, sinh ngày 4/12 năm Kỷ Hợi (1659, đỗ Hương cống năm 1675 khi Cụ 17 tuổi, năm 1680 Cụ 22 tuổi đỗ Đệ Tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân.
Cụ được ghi danh đỗ “Đệ Tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân” tại bài ký đề tên tiến sĩ, khoa thi Canh Thân, niên hiệu Vĩnh Trị năm thứ 5 (1680), đời vua Lê Hy Tông (bia số 48, Văn Bia Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội), do Cẩn sự tá lang, Hàn Lâm Viện Hiệu thảo Nguyễn Nham soạn, Bia dựng ngày 2/3 niên hiệu Vĩnh Thịnh năm thứ 13 (1717).
Bài ký đề tên tiến sĩ khoa thi Canh Dần, niên hiệu Vĩnh Thịnh năm thứ 6 (1710), triều vua Lê Dụ Tông (bia số 58, Văn bia Văn Miếu – Quốc Tử Giám Hà Nội) ghi lại sự việc Cụ được giao làm giám thí kỳ thi Đình: “Bồi Tụng, Hình Bộ tả thị lang, Thọ Nhạc Tử  Nhữ Đình Hiền làm cùng làm giám thí, cắt đặt việc trông coi mọi việc”, đây là thông tin chính xác về chức, tước của cụ tại thời điểm năm 1710.
Gia phả ghi chép là Cụ rất giỏi xử án, xét đoán, giải quyết các vụ việc rất phân minh, sáng suốt, nhiều vụ án hình sự nổi tiếng được Cụ điều tra ra, và xét xử công minh.
Bộ sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục của Quốc sử quán Triều Nguyễn ghi: "Đinh Sửu, năm Vĩnh Trị thứ 18 (1697) đời vua Lê Hy Tông. (Thanh, năm Khang Hy thứ 36). Tháng giêng, mùa xuân. Sai sứ thần sang nhà Thanh. Chánh sứ Nguyễn Đăng Đạo,... phó sứ Nhữ Tiến Hiền sung phái bộ nộp lễ tuế cống, nhân tiện tâu bày cả việc biên giới Tuyên Quang, Hưng Hóa nữa”… “Mậu Dần, năm thứ 19 (1698). (Thanh, năm Khang Hy thứ 37). Tháng 4, mùa hạ. Bọn sứ thần Nguyễn Đăng Đạo từ nhà Thanh trở về nước.”
Trong chuyến đi sứ này Cụ Nhữ Đình Hiền cùng vợ là Lý Thị Hiệu đã mang về nghề làm lược tre truyền dạy cho dân làng. Cụ Nhữ Đình Hiền trở thành ông tổ nghề lược tre Việt Nam.
Theo gia phả: Cụ Nhữ Đình Hiền mở dinh tại Thôn Thị, xã Đình Tổ, gọi là dinh Thái Lạc. Có nhiều cơ sở để khảng định đây chính là vị trí Nhà thờ họ Nhữ hiện nay. Cụ mất ngày 26 tháng 5 năm Bính Thân (1716). Táng tại đống Hoa Sen, thôn Như.
 
Cụ Bảng Nhãn Nhữ Trọng Thai (đời 9) – Cụ Tổ đỗ Đình Nguyên của họ Nhữ Việt Nam.
Cụ sinh năm 1696, tự Nhã Hành, hiệu Đôn Nhạc. Đỗ Đình Nguyên - Bảng Nhãn khoa Quý Sửu (1733), khoa thi này không có Trạng Nguyên, Tham Hoa, Cụ là người đỗ cao nhất kỳ thi này (Đình nguyên), làm quan đến Hiến Sát xứ. Nhiều sách dịch Cụ là Nhữ Trọng Đài, do chữ Thai (台) - có nghĩa là Sao Thai, viết giống như chữ Đài (台) có nghĩa là Đài hoa, tôi cho rằng tên Cụ chính xác là Trọng Thai.
Cụ được ghi danh đỗ “Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ, đệ nhị danh” tức Bảng Nhãn, tại Bài ký đề tên tiến sĩ khoa thi Quý Sửu, niên hiệu Long Đức năm thứ 2 (1733), đời vua Lê Thần Tông (Bia số 66, Văn bia Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội), do Trung Trinh đại phu, Hàn Lâm Viện Thừa chỉ Nguyễn Quán Giai soạn. Bia dựng ngày 19 tháng 12 niên hiệu Long Đức thứ 3 (1734).
Năm 1741, Cụ được cử tham gia hiệp đồng đem quân đi dẹp cuộc nổi loạn (khởi nghĩa nông dân) do Nguyễn Tuyển cầm đầu. Bộ sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục của Quốc sử quán Triều Nguyễn ghi: “Tân Dậu, Hiển Tông Vĩnh hoàng đế, năm Cảnh Hưng thứ 2 (1741). (Thanh, năm Càn Long thứ 6).
Bọn Đặng Đình Luận, đốc lãnh trấn Hải Dương, đánh Nguyễn Tuyển ở Đông Triều, bọn này bị Nguyễn Tuyển bắt.
Thanh thế Nguyễn Tuyển rất lừng lẫy. Triều đình sai Đặng Đình Luận làm đốc lãnh thượng đạo Hải Dương, Trần Trọng Liêu và Nhữ Trọng Thai giữ chức hiệp đồng, đem quân đi đánh. Bọn này tiến quân đóng ở Đông Triều. Tuyển sai người xin hàng, Đình Luận tin lời, không phòng bị. Đêm đến, Tuyển đánh úp doanh trại. Đình Luận, Trọng Liêu và Trọng Thai đều bị bắt, Tuyển cho ở riêng một chỗ. Sau này Tuyển bị thua, bọn Đình Luận trốn về, đều bị lột hết quan chức và tước phẩm.”

Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn trên báo Bình Định và trong một cuốn sách của mình đã đăng bài bài khảo cứu một câu đối nổi tiếng mừng thọ Vua Càn Long 80 tuổi, do Phó Bảng Đào Phan Duân sưu tầm. Và đây là toàn văn câu đối ấy:
- Long phi ngũ thập hữu ngũ niên, ngũ số hợp thiên, ngũ số hợp địa, ngũ sự tu, ngũ hành thuận, ngũ đại đồng đường, linh lung ngũ phụng lâu tiền, ngũ sắc côn hoàng huy thể thụ;
- Thánh thọ bát tuần phùng bát nguyệt, bát thiên vi xuân, bát thiên vi thu, bát nguyên tiến, bát khải đăng, bát phương hướng hóa, cổ vũ bát loan điện lý, bát tiên phiêu miểu tấu nghê thường.

(Thanh, Càn Long đế bát tuần khánh tiết điện trụ liễn, bản quốc sứ thần Nhữ Trọng Thai(2) tác).
Tạm dịch nghĩa:
- Rồng bay năm chục lẻ năm năm, số năm hợp với trời, số năm hợp với đất, năm sự trau dồi, năm hành xuôi thuận, năm đời chung sống cùng nhà, trước lầu năm chim phụng long lanh, năm sắc đan xen chói rực cây màu lộng lẫy;
- Lễ thọ nhà vua tám tuần vào dịp tháng tám, tám ngàn năm là mùa xuân, tám ngàn năm là mùa thu, tám nguyên hiền tài đến, tám khải kẻ sĩ chầu, tám cõi đổi đời, cổ vũ tám chim loan trong điện. Tám nàng tiên thăm thẳm dâng điệu múa nghê thường.

(Câu đối treo ở trụ trong ngôi điện mừng thọ vua Càn Long nhà Thanh 80 tuổi, do sứ thần nước ta là Nhữ Trọng Thai viết).
Vũ Ngọc Liễu đã đánh giá rất cao câu đối này, tác giả viết: “Tôi gọi câu đối này là tác phẩm nghệ thuật ở lãnh vực ngoại giao, một tác phẩm làm nên bằng trí tuệ độc đáo và học vấn uyên thâm. Cái độc đáo, cái uyên thâm ở chỗ dường như cả câu đối 76 con chữ chỉ nói việc mừng thọ nhà vua thôi chứ không nói gì khác cả mà lại nói được tất cả”.
Cụ giỗ ngày 12/6.
 
Cụ Hội Nguyên, Tiến sĩ Nhữ Công Toản (đời 9) – Cụ Tổ Văn võ song toàn
“Văn tiến sĩ, võ quận công, triều trung hiển hoạn
Quốc trung thần, gia hiếu tử, thiên hạ hoàn danh”

Tạm dịch:
“ Văn tiến sĩ, võ Quận công, triều đình quan lớn
Nước trung thần, nhà hiếu tử, thiên hạ nổi danh”

Đó là câu đối trên cờ thêu do Vua Lê và Chúa Trịnh ban tặng cho Cụ Nhữ Công Toản khi Cụ được nghỉ dưỡng nhàn.
Cụ tên huý là Ban, tự là Thượng Chân, hiệu là Thượng Phác, tên lúc đi thi là Đình Toàn, sau Chúa yêu quý đổi sang Công Toản, biệt hiệu là Hoạch Đình cư sĩ. Sinh vào giờ Hợi, ngày 6 tháng 4 năm Quý Mùi, niên hiệu Chính Hoà (1703). Đỗ tiến sĩ năm 1736. Cụ là con thứ ba của tiến sĩ Tham Tụng, Thượng Thư Bộ Hình Nhữ Đình Hiền.
Về văn trị:
Cụ được ghi danh trong bài ký đề tên tiến sĩ khoa thi Bính Thìn, niên hiệu Vĩnh Hựu năm thứ 2 (1736) triều vua Lê Ý Tông (Bia số 67, Văn bia Văn Miếu - Quốc tử giám Hà Nội), do Bồi Tụng, Lại Bộ Tả thị lang, kiêm Đông các Hiệu thư, Kiều Quận Công Nguyễn Đình Thái soạn, bia lập tháng 3, niên hiệu Vĩnh Hựu năm thứ 4 (1738).
Cụ có có soạn, sửa các bài ký đề tên tiến sĩ các khoa thi sau:
- Bài ký trên bia số 72, văn bia Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội, Khoa thi Nhâm Thân, niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 13 (1752) triều vua Lê Hiển Tông. do Nhập Thị Bồi Tụng, Hình Bộ Tả thị lang, Tri lâm viện sự, Bá Trạch Hầu Nhữ Đình Toản soạn. Khoa thi này có nhà bác học Lê Quý Đôn đỗ bảng nhãn.
- Bài ký trên bia số 74, văn bia Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội, Khoa thi Đinh Sửu, niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 18 (1757) triều vua Lê Hiển Tông. do Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, Nhập nội thị Bồi Tụng, Ngự sử đài, phó đô ngự sử, Binh Bộ Tả thị lang, Tri lâm viện sự, Bá Trạch Hầu Nhữ Đình Toản soạn.
- Bài ký trên bia số 79, văn bia Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội, Khoa thi Nhâm Thìn, niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 33 (1772) triều vua Lê Hiển Tông. Do Hội Nguyên, đồng tiến sĩ khoa Bính Thìn, (1736), Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, Nhập nội thị Tham Tụng, Binh Bộ Thượng thư, Cải thụ đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Đô đốc phủ Tả Đô đốc, Quyền Phủ sự đồng dự chính vụ, trí sĩ, Trung phái hầu Nhữ Công Toản sửa. Ghi danh Hoàng giáp Nhữ Công Chấn.
Các thông tin trên ngoài việc cho chúng ta biết được Cụ được giao soạn các bài ký đề tên tiến sĩ mà còn cho chúng ta biết chính xác về các chức vụ, trọng trách Cụ được giao ở các thời điểm khác nhau.
Sách Lịch triều Hiến chương loại chí của nhà bác học Phan Huy Chú đã viết về Cụ trong phần Nhân vật chí như sau: “Năm Nhâm Tuất (1742), sai ông làm Thái phỏng (sứ) ở Sơn Nam hạ lộ. Được ít lâu chúa triệu vào giao cho việc quân quốc trọng yếu. Ông cùng Hà Tông Huân điều trần những việc nên làm bấy giờ, rất xứng ý chúa, được thăng Thượng thư bộ Binh và Tham tụng, tước Bá Trạch hầu giúp đỡ bên cạnh chúa, càng ngày được chúa quyến chú.
 Năm Tân Mùi (1751) hiệu chính quyển Bách quan chức chưởng(4), ông tham khảo châm chước điển lệ các triều trước, đem 9 điều dạy bảo cho tướng phủ. Thời bấy giờ khen là điển chương tốt.”

Cụ có nhiều năm kiêm nhiệm chức Tế tửu (hiệu trưởng) tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám
 
Về võ trị:
Bộ sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục của Quốc sử quán triều Nguyễn ghi: “Tân Dậu, Hiển Tông Vĩnh hoàng đế, năm Cảnh Hưng thứ 2 (1741). (Thanh, năm Càn Long thứ 6). Tháng 12.
Trương Khuông, đốc trấn Hải Dương, đánh nhau với giặc tên là Kình: Khuông bị bại trận; Nhữ Đình Toản, hiệp mưu, bị Kình bắt được. Nhân đấy, Đình Toản dụ Kình đầu hàng. Trước kia Kình (sót họ) theo anh em Nguyễn Tuyển. Tuyển dùng làm tướng bộ thuộc. Đến khi Tuyển bị thua, Kình bèn tập tập hợp đồ đảng còn sót lại cướp bóc ở quãng Cẩm Giàng, Chí Linh, quân chúng có vài trăm người. Đốc trấn Trương Khuông cùng Đình Toản đem quân đuổi theo tróc nã. Bọn Khuông đánh nhau với Kình ở xã La Mát, bị bại trận. Nhữ Đình Toản, hiệp mưu, bị Kình bắt được. Kình vẫn kính trọng thanh danh Đình Toản, dùng lễ tân khánh để đối đãi. Nhân gặp cơ hội, Đình Toản đem sự họa phúc dụ dỗ. Kình bèn đến cửa quân đầu hàng.”

Sách Lịch triều Hiến chương đã viết về Cụ như sau: “Ông làm tướng hơn 10 năm, cốt giữ thể thống, ưa chuộng khoan hòa, rộng rãi. Thời bấy giờ khen là danh thần. Sau vì ông muốn xa lánh nơi quyền thế, mới xin đổi sang chức võ, được làm Hiệu điểm tạm coi việc võ, thăng mãi đến chức Tả đô đốc, tước Trung Phái hầu. Khi về hưu, được đặc ân cho dự vào bậc Quốc lão. Ít lâu sau lại được chúa gọi ra làm quan, ông cố từ, chúa cho bài thơ quốc âm để dụ ông, nhưng ông vẫn không chịu ra. Năm Quý Tỵ (1773), ông chết, thọ 71 tuổi, tặng Thái bảo(a).”
Về tài thơ văn
Sách Lịch triều Hiến chương đã viết: “Ông lại cho văn chương đời ấy thường chuộng rườm rà, vụn vặt, dần dần mất cả thuần hậu. Ông xin với chúa xuống chỉ dụ khôi phục lại theo như thể văn đời Hồng Đức, thi Hương, thi Hội đều dùng lối văn bình dị, bỏ lối viết vụn vặt. Từ đấy lối văn thi cứ mới thay đổi hết, những người học thức ai cũng khen.”
Cụ viết nhiều thơ phú, số lượng còn lưu trữ đến ngày nay cũng khá nhiều, Như tác phẩm Trung Quân liên vịnh tập viết cùng Nguyễn Nghiễm, cha Đại thi hào Nguyễn Du, Trong sách “Di sản văn chương Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội” NXB Hà Nội 2010, đã đăng 05 bài thơ phú đặc sắc của Cụ, đó là các bài:
- Bài điếu văn đọc ở sa đàn úy lạo tướng sĩ trước khi ra trận của Đại Nguyên Súy Minh Vương - Quan Thượng thư Nhữ Đình Toản người xã Hoạch Trạch vâng lệnh soạn.
- Thơ tiến Mai Danh Tông về hưu của Nhữ Đình Toản.
- Bài Chế phong Việp Quận Công – Thượng Thư Nhữ Đình Toản soạn.
- Bài tựa (Bức Trướng) mừng Nguyễn Quý Hầu người làng Thu Lãng đỗ tiến sĩ của Quan viên huyện Cẩm Giàng.
- Bài Chế phong Liêm Quận Công xã Vân Lũng nguyễn Thế Khoa chưởng quản Viện Ngự Y – Thượng Thư Nhữ Đình Toản soạn.

Vừa qua, một anh bạn một anh bạn trước công tác tại Viện Viễn Đông Bác cổ (bên Pháp), giờ về Việt Nam dạy học, viết sách có thông tin cho biết, Anh đã đọc được một Văn bia tại lăng mộ của một vị quan đại thần ở Hưng Yên do Cụ Nhữ Đình Toản soạn, hiện tôi chưa về mục thị được văn bia này.
Cụ Nhữ Công Toản là một trong số những đại thần nổi trội nhất về tài năng văn võ song toàn trong thời kỳ Lê Trung Hưng, tên tuổi của Cụ cùng với Cha Cụ là Tiến sĩ Nhữ Đình Hiền luôn có mặt trong hầu hết các bộ từ điển danh nhân văn hoá - lịch sử.
Theo gia phả, Cụ Nhữ Công Toản đã có nhiều công lao với quê hương như Cụ đã đầu tư tiền của tu tạo Văn Chỉ hàng huyện tại xã Lôi Dương (thôn Sồi Cầu) để thờ tự các bậc tiên hiền của huyện (đến thời Nguyễn, Văn chỉ hàng huyện được đưa về xây dựng dựng tại làng Hoạch Trạch của ta – Hiện Bia “Đường An Văn Chỉ Bi” vẫn còn tại khu Chùa – Đền Thánh). Cụ đã đầu tư sửa sang nhà thờ chi họ tại xã Đình Tổ (thôn Tó) thành Nhà thờ dòng họ như hiện nay.
Theo tương truyền Cụ là Phạm Thánh đền Phù Ủng giáng sinh.
 
Cụ Hoàng Giáp Nhữ Công Chấn (đời 10) – Cụ Tổ giỏi thơ văn
Nhữ Công Chấn (1751 – 1805) đỗ Hoàng giáp, Thiếu tuấn khoa thi Đinh sửu, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 33 (1772). Làm quan triều Lê Hiển Tông đến chức Hữu Thị Lang Bộ Lễ, sau có ra làm quan triều Tây Sơn. Nhiều thơ phú của Cụ còn được lưu giữ đến ngày nay và được đăng trong nhiều các sách sưu tầm, tuyển tập.
 
Nhữ Công Chấn là công tử thứ tư của Tiến sĩ, Thượng thư Bộ Binh, Tả Đô đốc, Quốc lão Nhữ Công Toản (1703-1773), cháu nội Tiến sĩ, Thượng thư Bộ Hình Nhữ Đình Hiền (1657 – 1715), chắt nội Tiến sĩ Nhữ Tiến Dụng (1623 – 1690). Cháu gọi Bảng nhãn Nhữ Trọng Thai là bác ruột. Mười anh em trai con Cụ Nhữ Công Toản đều giỏi giang, thành danh như Nhữ Công Củng (公) đỗ Hương cống làm Lễ Bộ viên ngoại lang, Nhữ Công Vũ (公) đỗ Hương cống, năm 1787 trúng Hội thí Tiến triều (chế khoa), làm Chính sứ Nghệ An, Nhữ Công Liêu (公) đỗ Hương cống, làm Bí thư trực học sĩ, Quốc Tử Giám Thị thư, Binh Bộ Thượng thư từ năm 1793 đến 1801 (triều Tây Sơn - Quang Toản), Nhữ Công Quý (公貴) đỗ Hương cống, làm tri huyện Gia Lộc, tri phủ Khoái Châu, năm Tân Mùi (1811) dâng sách “Hoàng Việt Thống chí” lên vua Nguyễn v.v…
Sách “Lịch triều hiến chương loại chí’ của Phan Huy Chú trong phần nhân vật chí viết: “Con trai thứ tư của Ông (Nhữ Đình Toản) là Nhữ Công Chấn, năm 22 tuổi đỗ Hoàng Giáp năm Nhâm Thìn (1772) thi hội, thi đình đều đỗ thứ hai (dưới Hồ Sĩ Đống - quê Quỳnh Lưu) là người ít tuổi nhất, giỏi nhất khoa thi ấy”.  
 
Năm Nhâm Dần (1782), là Lễ Bộ hữu thị lang, Nhập nội thị Thiêm sai, Ông cùng nhóm đại thần như Hoàng Đình Bảo, Trịnh Kiều… phò giúp Trịnh Cán lên ngôi Chúa theo cố mệnh của Chúa Trịnh Sâm trước khi chết.  Nhữ Công Điền (Chấn) được giao viết chế sách về Tuyên Phi Đặng Thị. Trịnh Cán nối ngôi chúa, triều chính càng chia rẽ bè phái nặng nề. Tháng 12, kiêu binh tam phủ nổi dậy, Trịnh Cán bị phế truất, lập Trịnh Khải  làm chúa. Lại phiên Nhữ Công Chấn và các quan phò giúp Trịnh Cán bị bãi hết chức về làm dân thường.
Năm 1786 Nhữ Công Chấn cùng với một số quan đại thần cũ được Nguyễn Hữu Chỉnh tâu với vua Lê Chiêu Thống cho mời ra làm quan nhưng Ông đã giả điên từ chối.
Khi đại thắng 29 vạn quân Thanh tại Thăng Long mùa xuân Kỷ Dậu (1789), Quang Trung - Nguyễn Huệ thống nhất cả sứ đàng Ngoài và trở thành một anh hùng lớn của thời đại. Nhữ Cống Chấn và một loạt các nhà nho, trí thức tiến bộ như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Bá Lan, Phan Lê Phiên, Nhữ Công Liêu… đã ra làm quan, giúp triều Tây Sơn quản lý đất nước. Việc này đã bị những nhà hủ nho lúc bấy giờ phê phán, Phạm Đình Hổ trong Vũ Trung tùy bút đã viết: “Còn như Nhữ Công Chấn ở Hoạch Trạch gặp lúc loạn, giả cách rồ dại để giữ cho sạch mình, không ra làm quan để nhơ mất giá trị cũng là phải. Nhưng đến lúc tuổi tác đã già thì lại muốn cầu cạnh lấy một danh mệnh của Tây Sơn…”. Qua đó thấy rằng, Nhữ Công Chấn là nhà nho tiến bộ, thức thời và dũng cảm.
Tuy nhiên, năm 1792 vua Quang Trung lại đột ngột qua đời khi sự nghiệp chấn hưng đất nước vẫn còn dang dở. Năm 1802, Vương triều Tây Sơn - Quang Toản nhanh chóng sụp đổ. Sách “Quốc sử di biên” của Thám hoa Phan Thúc Trực soạn đầu triều Nguyễn viêt:
“Ngày 21 (tháng 6 năm Nhâm Tuất -1802) Thế Tổ (Gia Long) xa giá đến thành Thăng Long… Các quan văn võ triều Lê cũ và quan ngụy Tây (sơn) ra hàng, đến cửa quân bái yết, đều tùy tài bổ dụng. Tiến sĩ Bùi Huy Bích, Nhữ Công Điền (Chấn), Phạm Quý Thích, Lê Huy Du… Huy Bích, Công Điền (Chấn) đều từ về. Còn Quý Thích làm trợ giáo Bắc Thành…”
Nhữ Công Chấn làm chức quan gì trong triều đình Sơn Tây? từ năm nào? hiện chưa tìm được tài liệu ghi chép. Vậy là sau hai lần ra làm quan nghiệp quan trường của Nhữ Công Chấn bắt đầu khi Ông mới 19 tuổi và dừng lại khi Ông cũng đã 52 tuổi. Hơn ba mươi năm quan trường của ông là hơn ba mươi năm đầy biến loạn như thay vua, đổi chúa, nội chiến, chiến tranh ngoại bang…
Sự nghiệp thơ văn Nhữ Công Chấn khá ấn tượng, do thời gian có hạn chỉ xin trích đọc một số câu trước khi kết thúc buổi nói chuyện hôm nay.
Ông có một bài thơ thất ngôn bát cú viết tặng Nàng Cung phi Điểm Bích (cùng quê) vốn nổi tiếng tài sắc, được vua Trần Anh Tông cử đi Yên Tử để thử thách đạo hạnh của Trạng nguyên thiền sư Huyền Quang tức danh sĩ Lý Đạo Tái, Nàng Điểm Bích đã làm bài thơ “ghẹo tình” nổi tiếng. Nhữ Công Chấn cảm mến tài sắc và xót xa cho thân phận hồng nhan của nàng. Bài thơ toan đem khắc vào bia để dựng trước mộ xong lại thôi. Trong đó có các câu:
“Giai nhân lạc địa ủy kim điều”
 Nghĩa là “Giai nhân đày đọa rụng bông vàng”.
Lại có câu
“Tằng hướng tiêu phòng khoa yểu điệu,
Khước lai sơn tự bạn không thiền.”

Nghĩa là
“Phòng tiêu thuở trước từng khoe đẹp,
Chùa núi sau này tựa cảnh không..”

Khi qua thăm nền nhà và mộ Tiến sĩ Nhữ Công Tung ở làng Nhữ Thị, Ông đã cảm hứng viết bài thơ sau:
Dịch:
Mười mẫu quanh chùa đất rộng thay
Nhà quan tướng cũ đấy là đây
Nghĩ vùi cỏ nội nào ai biết
Rêu lấp hoa tàn nọ kẻ hay
Bộ Lễ ba triều ngôi chót vót
Cửa quan hai độ sứ xa khơi
Công danh phú quí còn đâu nữa
Hiu hắt hơi may nhuốm cỏ dày.
 

Sách “Di sản văn chương Văn miếu – Quốc Tử Giám Hà Nội” NXB Hà Nội 2010, đăng 4 bài thơ, phú của Nhữ Công Chấn đó là: “Lễ tế Đinh tại Quốc Tử Giám vào mùa xuân, kính ghi một bài thơ luật” thơ chữ Hán, “Quan Phu Tử Phú (Thận Trai), “Tam cương ngũ thường”, “Tam kiệt phú” thơ chữ Nôm.
 
Bài thơ: Trọng xuân Quốc Tử Giám đinh tế cung kỷ nhất luật
Quốc Tử nghi văn bí,
Xuân đinh tự sự khâm.
Vân thiều thanh trắc giáng,
Trở đậu túc lai hâm.
Phúc trù như thiên địa,
Long sùng tự cổ câm.
Cung tường thiên nhận thuý,
Giang Hán vọng trung thâm.

 
Dịch thơ:
Lễ tế Đinh ở Quốc Tử Giám giữa xuân, kính ghi một bài thơ luật
(Người dịch: Phan Văn Các  đăng trên Tạp chí Hán Nôm số 4 (101), 2010)
Quốc Tử văn chói lọi
Xuân Đinh tế rỡ ràng
Mây Thiều đang trắc giáng
Mâm cỗ thật nghiêm trang
Màn rộng như trời đất
Lễ trọng xưa nay vang
Cung tường ngàn nhận thẳm
Nhìn sâu hút Hán Giang.

 
  Ngoài sự nghiệp khoa bảng, thơ văn… Cụ còn được ghi nhận là người có tâm và có công tiếp nối truyền thống gia đình, tu tạo và mở rộng di tích tâm linh quan trọng, một trong tứ trấn của  kinh thành Thăng Long, đó là Đình Bạch Mã. Năm Chính Hòa thứ 8 (1687) Cụ nội Nhữ Công Chấn là Tiến sĩ Nhữ Tiến Dụng và Ông nội là Tiến sĩ Nhữ Đình Hiền đã tham gia đóng góp tiền của và đứng ra tổ chức xây dựng lại toàn bộ Đình Bạch Mã đã bị đổ nát do chiến tranh và thời gian… Ngày 2 tháng 9 năm Cảnh Hưng thứ 34 (1773) Ông lại làm giấy hiến toàn bộ khu đất rộng 16m, dài 108m bên cạnh Đền (do cha ông để lại) cho đền Bạch Mã để xây dựng khu văn chỉ của đền. Ghi nhận công lao của gia đình Ông, hiện trong Đền có bia đá ghi công đức và ban thờ Tiến sĩ Nhữ Tiến Dụng (thờ hậu).
  Căn cứ theo văn bia và câu đối cổ tại từ đường các dòng họ Nhữ thôn Tê Quả, Bối Khê, xã Tam Hưng, Hà Nội (Hà Tây), những người họ Nhữ tại thôn Hoạch Trạch (Hải Dương) và thôn Tê Quả, Bối Khê (Hà Nội) đã khảng định là Hoàng giáp Nhữ Công Chấn đã về định cư và là ông tổ các dòng họ Nhữ tại đây.
Sách “Quốc sử di biên” của Phan Thúc Trực viết:
“Ất Sửu năm thứ 4 (1805)… Mùa thu, tháng 7, mồng 10, bắt đầu đặt viên Đông đường và viên Tây đường ở các phủ…
…Hoàng Giáp đời Lê cũ Nhữ Công Điền (Chấn) mất.”
 
Vậy có thể khảng định là Hoàng giáp Nhữ Công Chấn mất vào trung hoặc hạ tuần tháng 7 năm Ất Sửu (1805). Đây là một thông tin quý, cho chúng ta biết về ngày, tháng, năm Cụ Nhữ Cống Chấn mất, điều mà gia phả không ghi chép lại được.

Do thời gian có hạn, tôi xin dừng bài nói chuyện tại đây, sự tích về các cụ họ Nhữ nhà ta thì còn rất nhiều, xin hẹn toàn thể gia tộc vào một dịp khác.
Xin cảm ơn toàn thể gia tộc đã chú ý lắng nghe.
Nhữ Đình Văn

 
Tổng số điểm của bài viết là: 1 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a
Thu Nhữ - 28/05/2013 03:32
Dòng họ ta là một dòng họ đáng tự hào...
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

GIới thiệu

BÀI 2: Tài trợ, đóng góp cho hoạt động của Hội đồng Dòng họ Nhữ Việt Nam

 > BÀI 1: TRANG TT  ĐT HỌ NHỮ VIỆT NAM      Để tạo điều kiện cho các hoạt động của Hội đồng dòng họ Nhữ Việt Nam trong các năm 2010, 2011, quí I năm 2012. Hội đồng dòng họ Nhữ Việt Nam đã nhận được sự tài trợ, đóng góp của các cá nhân,...

Đăng Nhập

Bài viết mới nhất

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HỌ NHỮ VIỆT NAM
www.honhuvietnam.com      E-mail: honhuvietnam@gmail.com

Hotline:                                Fax : +84 4 3 863 1091