20:19 ICT Chủ nhật, 17/10/2021

Danh mục bài viết

Gủi bài viết

Các bài viết

Trang nhất » Bài viết » Lịch sử, danh nhân...

SƠ KHẢO VỀ SỰ NGHIỆP TRƯỚC TÁC CỦA NHỮ ĐÌNH TOẢN

Thứ tư - 19/05/2021 22:09
SƠ KHẢO VỀ SỰ NGHIỆP TRƯỚC TÁC CỦA NHỮ ĐÌNH TOẢN
ThS. Phạm Văn Ánh[1]

H
ội thảo khoa học Hội nguyên, TS Nhữ Đình Toản tại Văn Miếu, Quốc Tử Giám Hà Nội
     Nhữ Đình Toản (汝 廷 瓚) xuất thân trong một thế tộc tại xã Hoạch Trạch, huyện Đường An (nay là thôn Hoạch Trạch, xã Thái Học, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương). Ông nội Nhữ Đình Toản là Nhữ Tiến Dụng (汝 進 用) , tự là Nột Tẩu (訥 叟), hiệu Giới Hiên (戒 軒), húy là Lộng (弄), thi đỗ Đệ tam giáp Tiến sĩ xuất thân khoa thi năm Giáp Thìn niên hiệu Cảnh Trị [1664], làm quan trải các chức tước: Lễ khoa Đô cấp sự trung, phong tặng Hoằng tín Đại phu, Thái thường tự Tự khanh, gia tặng Gia hạnh Đại phu, Tả thị lang bộ Công, lại gia tặng là Đặc tiến kim tử vinh lộc Đại phu, Ngự sử đài Đô ngự sử, tước Liên Khế bá, gia tăng Thượng thư bộ Công, tước Liên Khê hầu. Cha ông là Nhữ Đình Hiền (汝 廷 賢), thi đỗ Tiến sĩ khoa thi năm Canh Thân niên hiệu Vĩnh Trị triều Lê [1680], làm quan trải các chức tước: Quang lộc Đại phu, Bồi tụng, Tả thị lang Bộ Lại, Ngự sử đài Phó đô ngự sử, Thượng thư Bộ Hình, tước Thọ Nhạc tử, Thượng thư Bộ Lễ, Thái phó, Thọ Nhạc Quận công, thụy là Ôn Khiêm, được tặng thụy là Thông Tuấn. Theo gia phả họ Nhữ (Hoạch Trạch Nhữ tộc phả 穫 澤 汝 族 譜 - A.677), Nhữ Tiến Hiền có đến 8 người vợ, sinh hạ được 5 con trai và 8 con gái. Con trai thứ nhất là Nho sinh trúng thức, thứ 2 là Thái bộc tự khanh, thứ 3 là Quốc lão, thứ 4 là An Quảng xứ Hữu tham nghị, thứ 5 là Vệ úy - Bá Trung bá. “Quốc lão 國 老” tức Nhữ Đình Toản. Ông sinh giờ Hợi, ngày mồng 6 tháng Tư năm Quý Mùi niên hiệu Chính Hòa [1703], mất vào ngày 16 tháng Hai năm Quý Tỵ niên hiệu Cảnh Hưng [1773], thọ 71 tuổi. Theo Trần Văn Giáp, Nhữ Đình Toản “nguyên trước tên là Nhữ Công Toản 汝 公 瓚, sau khi thi đỗ, đổi tên là Nhữ Đình Toàn 汝 廷 瓚, tự là Thượng Chân 尚 真, hiệu là Trạch Hải 澤 海. Lại chú thêm: “Về tên Nhữ Đình Toản, trong sách Lịch triều đăng khoa bị khảo chép là: ông trước tên là Đình Toản, sau đổi là Công Toản, nhưng trong sử thường thấy chép Đình Toản, vậy có lẽ sách trên biển lẫn”[2]. Theo gia phả, ông hủy là Huy Toản (輝 瓚), tự là Thượng Phác (尚 樸), sau khi mất thụy là Khiêm Cẩn (謙 謹). Còn theo ghi chép trong phần đầu Quận trung liên vịnh (軍 中 聯 詠 –A.1104) ông tự là Thượng Chân, và dường như còn có tên hiệu là Trạch Như cư sĩ (澤 如 居 士).
     Cuộc đời và sự nghiệp của Nhữ Đình Toản được ghi nhận qua nhiều thư tịch, trong đó có các sách về Đăng khoa lục, sách địa phương chí, các bộ sử như Đại Việt sử kí toàn thư tục biên (từ đây gọi tắt là “Tục biên"), Khâm đình Việt sử thông giám cương mục (từ đây gọi tắt là “Khâm định”)... song tập trung nhất là Hoạch Trạch Nhữ tộc phảLịch triều hiến chương loại chí (phần Nhân vật chí) của Phan Huy Chú. Theo ghi chép trong các sách này, Nhữ Đình Toản từ bé đã ham thích bút nghiên, sau từng theo học nhiều bậc danh sư. 27 tuổi, năm Kỉ Dậu [1729], thi Hương đậu thứ hai. 29 tuổi, khoa thi Hội năm Tân Hợi (1731), bị ốm, không dự thi. 31 tuổi, khoa thi năm Quý Sửu (1733), thi đỗ tam trường, 34 tuổi, khoa thi năm Bính Thìn niên hiệu Vĩnh Hựu (1736), đỗ Hội nguyên. Năm 36 tuổi, năm Mậu Ngọ [1738], bắt đầu vào triều làm việc, nhận chức Cấp sự trung ở bộ Lại. 37 tuổi, năm Kỷ Mùi [1739], được sai làm Đốc đông ở Lạng Sơn, 38 tuổi, năm Cảnh Hưng nguyên niên [1740], được sai đi chiêu dụ ở hai phủ Kinh Môn và Thượng Hồng, tháng 11 cùng năm phụng sai cùng Nguyên Nghiễm đi “dẹp giặc”, 39 tuổi, năm Tân Dậu (1741), đánh nhau với “giặc” ở Đường Hào, La [Mát], bị giặc Bình Lăng bắt được, ông nhân đó nói rõ điều phúc họa, “giặc” liền theo lời dạy mà đầu hàng. 40 tuổi, năm Nhâm Tuất [1742], do có công chiếu hàng quân “giặc”, được thăng làm Cẩn sự lang, Giám sát ngự sử đạo Kinh Bắc. 41 tuổi, năm Quý Hợi [1743], thăng làm Hoằng tín đại phu, Nhập thị nội Bội tụng, Quang lộc tự khanh, 43 tuổi, năm Ất Sửu (1745), ngày năm tháng hai, do có tài chính sự và lòng trung cần, được thăng làm Gia Hạnh Đại phu, Nhập thị Thanh tụng, Hữu thị lang bộ Công; đến 24 tháng Mười, thăng làm Đặc tiến Kim tử vinh lộc Đại phu, nhập thị Tham tụng, Hữu thị lang bộ Công, quyền Tả thị lang bộ Binh, tước Bá Đình hầu. Sau đó thăng làm Tả thị lang bộ Hình, quyền Tả thị lang bộ Binh, kiêm chức Tế tửu Quốc Tử Giám, Tri Hàn lâm viện sự, tước phong như cũ[3]. Lịch Triểu Hiến Chương loại chí viết: “Ông lại cho văn chương đời ấy thường chuộng rườm rà, vụn vặt, dần dần mất cả thuần hậu. Ông xin với chúa xuống chỉ dụ khôi phục lại theo như thế văn đời Hồng Đức, thi Hương, thi Hội đều dùng lối văn bình dị, bỏ lối viết vụn vặt. Từ đấy lối văn thi cử mới thay đổi hết, những người học thức ai cũng khen”[4], hắn là nói về giai đoạn này. 56 tuổi, năm Mậu Dần [1758], gia phong quyền Thượng thư Bộ Binh[5]. 57 tuổi, năm Kỉ Mão [1759], do có chính tích, được đổi sang làm Hữu hiệu Điểm ti Hiệu điểm, Cai cơ, tước Trung Phái hầu. 66 tuổi, năm Đinh Hợi [1767], thăng làm Đô đốc Đồng tri, thăng Đô đốc Thần vũ Tứ vệ quân vụ. 67 tuổi, năm Mậu Tí [1768], thăng Đô đốc phủ Tả đô đốc, về trí sĩ, được đặc ban là bậc Quốc lão, sau được khởi phục, gia phong là Thái bào, tước Trung Quận công. 70 tuổi, năm Nhâm Thìn [1772], con trai thứ tư thi đổ Hoàng giáp. 71 tuổi, năm Quý Tỵ [1773], qua đời. Ngày 25 tháng 05 năm Cảnh Hưng thứ 43 [1782], do dạy con đỗ đạt, được tặng Đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân, Thái phó.
Năm 1738, Nhữ Đình Toản bắt đầu con đường hoạn lộ, đến khi qua đời năm 1773, chỉ có một khoảng thời gian nghỉ trí sĩ, sau lại được khởi phục. Trong gần 35 năm, làm quan cả ngạch văn và võ, ở chức vụ nào ông cũng hoàn thành tốt chức trách, biết cương nhu, tiến thoái hợp nghi, được đương thời và hậu thể đánh giá cao. Lời thơ Nôm ngự chế của chúa Trịnh ban tặng cho Nhữ Đình Toản vào năm Mậu Tý [1768] khi Nhữ Đình Toản về trí sĩ, khen ông là người làm vẻ vang cho đất nước (hoa quốc 華 國) lại biết “tri túc”[6]. Thơ rằng:
     Bấy lâu gang tấc chốn phong thần[7],
     Lục Dã[8] phen này đượm thức xuân.
     Hoa quốc mấy phen thêm thái cẩm,
     Lập triều đòi thuở nhắc đồng cân.
     Mấy sâu vẫn rạng bề tri túc,
     Gánh nặng còn dành sức trí thân.
     Ưu ái niềm xưa nên nghĩ đấy,
     Bên tai chi đãng tiếng Thiều quân.

     Trong các câu đối do các quan đồng triều tặng Nhữ Đình Toản về hưu cũng hết lời khen ngợi về tài năng của ông, cho ông là người vừa có tài năng văn chương lại giỏi về chính sự, được ơn trị ngộ, công danh rạng tỏ:
     文 才 政 學 誠 雙 絕
     知 遇 勲 名 又 一 奇
Phiên âm:
     Văn tài, chính học thành song tuyệt;
     Tri ngộ, huân danh hựu nhất kì.
Dịch nghĩa:
   Tài năng văn chương và sở học về chính sự, cả hai đều trác tuyệt:
   Cuộc tri ngộ, công danh, lại cũng là một điều lạ kì.

     Sách Đại Nam nhất thống chí cũng cho rằng ông “hơn 10 năm giữ chính quyền, chỉ chủ trương khoan hồng, người đời khen là danh thần”[9]
.     Về trước tác của Nhữ Đình Toản, nhà thư mục học Trần Văn Giáp cho biết ông có 3 tác phẩm, gồm: 1/ Bách ti chức chưởng, 2/ Hoạch Trạch Nhữ tộc phả, 3/ Trung Quân liên Vịnh - “Tập thơ này gồm ở trong sách Danh gia thi tạp vịnh 名家詩雜詠”[10] Tuy nhiên, đây không phải tất cả các tác phẩm của Nhữ Đình Toản hiện còn.

1. Bách ti chức chưởng (百 司 職 掌)
     Theo Trần Văn Giáp, sách này gồm 1 quyển, được sửa định ban hành vào năm Cảnh Hưng thứ 13 [1752]. Đầu sách có in chỉ dụ về việc biên soạn sách. Đây là sách “chép gọn và đủ những quy tắc về các chức việc và nhiệm vụ, cùng là các tổ chức các quan chức hồi cuối thời Lê, nhưng tên sách này không thấy trong Cương mục. Sách Cương mục về năm Cảnh Hưng thứ 12 [1751] có chép một sách nhân để khác hẳn: Tấn thân thực lục 縉 紳 實 錄 [11]. Trần Văn Giáp trích đoạn ghi chép về Tấn thân thực lục trong Cương mục, từ đó nhận định rằng: “Do đó, ta có thể đoán định sách Bách ti chức chưởng mà Phan Huy Chú [trong Lịch triều hiến chương loại chí] nói đây có lẽ tức cũng là sách Tấn thân thực lục”[12]. Sau đó ông dẫn sách Bách từ thứ Vụ (百司庶 務) kí hiệu A.828 do Nguyễn Sĩ Tín vâng lệnh triều đình khắc in, có dấu của nhà vua và niên đại ngày 26 tháng Sáu năm Cảnh Hưng 12 [1751], đầu sách in sắc lệnh triều đình, có kế khai đủ 9 điều như Cương mục từng đề cập, kể đó là nhiệm vụ của từng đơn vị, từ đó kết luận: “Vậy ta có thể nói rõ là sách Bách tổ chức chưởng có nhiều tên: 1/ Bách tỉ chức chưởng, 2/Tấn thân thực lực, 3/Bách ti thứ vụ. Nhưng tóm lại ba tên ấy vẫn chỉ là một sách do triều đình Cảnh Hưng sai Nhữ Đình Toản biên soạn, cho phép Nguyễn Sĩ Tín khắc in năm 1751, tiếc rằng sách ki hiệu A.828 hiện nay cũng đã bị mất”[13].
     Liên quan đến sự kiện này, Tục biên cho biết, vào năm 1751: “Tháng Sáu, định lại các chức trách trăm quan. Chúa Trịnh nghĩ trong cõi đã yên, trước nên chỉnh định quan chức. Sai Nhữ Đình Toản tham chước thể lệ quan chế của các triều làm thành sách Tấn thân sự lục (縉 紳 事 錄). [...]. Đến nay lại đem 9 điêu huấn thị cho chính phủ, để tùy tài bổ dụng, chọn lấy các chức, bởi thế trong ngoài ai cũng cố gắng, giữ phép nghiêm trang, có thể gọi là “Pháp điển đời thái bình” vậy. Chín điều là: 1/ Chính quân tâm làm cho lòng vua được ngay thẳng, 2/ Chọn xét quan lại, 3/ Bàn việc dân chỉnh, 4/ Xét quân cơ, 5/ Tiết chế việc quốc dụng, 6/ Sáng tỏ thể lệ kiện tụng, 7/ Làm rõ ràng việc tính toán thu chi, 8/ Thưởng phạt cho đúng, 9/ Pháp lệnh nghiêm minh”[14].
     Sách Cương mục ghi tương tự, riêng tên sách lại viết là Tấn thân thực lục[15].
     Còn Lịch triều hiển chương loại chí của Phan Huy Chú, phần Văn tịch chí lại viết: “Bách ti chức chưởng, 1 quyển, Năm Cảnh Hưng thứ 13 [1752], sửa định ban hành, có chỉ dụ của vua chép ở đầu”[16]. Nhưng ở phần viết về Nhữ Đình Toản lại ghi là sách Bách quan chức chưởng (百 官 職 掌)[17].
     Hiện trong các tàng thư Hán Nôm không có sách này mang tên Bách ti chức chưởng. Bản Bách ti thứ vụ kí hiệu A.828 mà Trần Văn Giáp nhắc đến cũng không còn. Tuy nhiên, Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm vẫn còn một bản Bách ti thứ vụ (gồm 33 tờ, kí hiệu VHv.1273). Đây là bản in thời Lê, hoàn toàn tương đồng với bản Bách tỉ thử vụ A.828 mà Trần Văn Giáp đã mô tả. Niên đại ghi cuối sách là ngày 26tháng Sáu năm Cảnh Hưng thứ 12 [1751]. Sách do Thị nội Nguyễn Sĩ Tín người ở xã Hoa Đường, huyện Đường An tàng bản. Tên sách ở tờ đầu ghi là “Bách ti thứ vụ”, nhưng mở đầu sách lại ghi: “Chỉ định Tấn thân sự lục 指定縉紳事錄”. Theo đó, sách này tên chính thức ban đầu là Tấn thân sự lục, nghĩa là “Ghi chép lại các công việc của các quan chức”, khi in còn được gọi là Bách ti thứ vụ, nghĩa là “Các công việc của các ti”. Xem nội dung, ngoài phần mở đầu là lời của chúa Trịnh, cho rằng do hưởng thái bình đã lâu, gần đây phát sinh các mối tệ, đã đến lúc cần phải chấn chỉnh lại, kế đó là 9 điều huấn thị của chúa Trịnh, phần sau - phần do Nhữ Đình Toản soạn - ghi chức năng nhiệm vụ của các quan chức. Như vậy, tên gọi Tấn thân sự lục hợp lí hơn Bách ti thứ vụ, dù hai tên gọi này hàm nghĩa gần như tương đồng. Ngoài ra, Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn có một bản khác ghi tên sách là Lê Tấn thân sự lục (黎 縉 紳 事 錄 nghĩa là: sách Tấn thân sự lục của triều lê, ký hiệu: VHv.1762), trong sách ghi “Phụng sao hiệu định Tấn thân sự lục 奉 抄 效 定 縉 紳 事 錄” (Vâng sao chép và hiệu định lại Tấn thân sự lục), là bản sao lục của Long Cương thư viện (龍 岡 書 院 - Kho sách của Cao Xuân Dục triều Nguyễn). Nội dung hoàn toàn tương đồng với Thứ ti bách vụ kí hiệu VHv.1273[18]. Như vậy, tên chính thức của bộ sách do triều đình Lê - Trịnh giao cho Nhữ Đình Toản soạn thuật là Tấn thân sự lục, đúng như ghi chép của Tục biên, tên ngoài bia là Bách tri thứ vụ, các cách gọi khác như Bách ti thực lực (như trong Khâm định), hay Bách tỉ chức chưởng (như trong Lịch triều hiến chương loại chí) là không hoàn toàn chuẩn xác. Đây là tài liệu quan trọng giúp hậu thể hiểu rõ hơn về tổ chức bộ máy chính quyền, quan chế, chức năng nhiệm vụ của các quan chức giai đoạn thế kỉ XVIII.

2. Hoạch Trạch Nhữ tộc phả (穫 澤 汝 族 譜)
     Bản hiện còn lưu tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm (kí hiệu A.677), chép tay, gồm 33 tờ. Đây là bản do hậu duệ dòng họ Nhữ là Nhữ Ngọc Bình sao lục lại vào tháng Trọng xuân [tháng Hai] năm Bính Ngọ niên hiệu Thành Thái năm thứ 18 [1906].
     Lời tựa sách do Đệ tam giáp Tiến sĩ xuất thân khoa thi năm Bính Thìn 1736, Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, Nhập thị Bồi tụng. Tả thị lang, Bá Trạch hầu Nhữ Thượng Chân, tức Nhữ Đình Toản viết vào tiết Trọng động (tháng Chín) năm Ất Sửu, niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 6 [1745]. Trong lời tựa, Nhữ Đình Toản cho biết, để hoàn thành cuộn gia phả, “Xa thì hỏi han nội ngoại, gần thì khảo xét chánh thứ. Kinh
xem biên chép còn lại để cẩu tự húy cho tường, bái lạy mộ phân tổ tiên để ghi núi sống hình thể. Biên thành một sách, nhan đề là Tư hiếu lục
思孝錄". Như vậy, tên chính thức của cuốn tộc phả họ Nhữ ở Hoạch Trạch do Nhữ Đình Toản biên soạn là Tư hiếu lục (思 孝 錄), còn tên gọi Hoạch Trạch Nhữ tộc phả là do hậu nhân tự đặt.
     Nội dung tộc phả cho biết về gốc gác dòng phái họ Nhữ ở Hoạch Trạch, là hậu duệ của Tiến sĩ, Thượng thư Bộ Hộ khoa thi năm Quý Mùi niên hiệu Quang Thuận năm thứ 4 (1463) triều Lê Sơ, sau phong thành Phúc thần, gia phong Cương chính bác đạt đại vương, tức Nhữ Văn Lan (汝 文 蘭), người xã An Tử Hạ huyện Tiên Minh (nay là thôn An Tử Hạ, xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng - Nhữ Văn Lan là ông ngoại của Trạng Trinh Nguyễn Bỉnh Khiêm). Kế đó lần lượt ghi 12 đời họ Nhữ:
- Thủy tổ: Nhữ quý công tự là Huyền Minh, là Tri huyện huyện Lục Ngạn.
- Tị tổ: Tri phủ Trường An, Bắc Hà, được ban tặng là Vương truyền công, tước Đoan Nghĩa tử, tự là Đạm Hiên, húy là Xuyên.
- Đời thứ 3: Tri huyện huyện Giao Thủy, tự là Thiện Tính, húy là Trung Tông.
- Đời thứ 4: Nhữ quý công, tự Nhã Trực, húy là Trị Sạ.
- Đời thứ 5: Xử sĩ, được phong Đặc tiến vinh lộc Đại phu, nguyên xứ Tán trị
thừa chánh sử ti Thừa chánh sứ, tự là Văn Nghị, hiệu là Chân Thông, húy là Lượng.
- Đời thứ 6: Đệ tam giáp Tiến sĩ xuất thân khoa thi năm Giáp Thìn niên hiệu Cảnh Trị, Lễ khoa Đô cấp sự trung, phong tặng Hoằng tín Đại phu, Thái thường tự Tự khanh, gia tặng Gia Hạnh đại phu, Tả thị lang bộ Công, lại gia tặng là Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, Ngự sử đài Đô ngự sử, tước Liên Khê bá, lại gia tăng Thượng thư bộ
Công, tức Liên Khế hầu, là Nhữ tướng công, tự là Nội Tẩu, hiệu là Giới Hiên, húy là Lộng, tên tự khác là Tiến Dụng.
- Đời thứ 7: Tiến sĩ khoa thi năm Canh thân niên hiệu Vĩnh Trị triều Lê, Quang lộc Đại phu, Bồi tụng, Tả thị lang bộ Lại, Ngự sử đài Phó đô ngự sử, Thượng thư bộ Hình, tước Thọ Nhạc tử, Thượng thư bộ Lễ, Thái phó, Thọ Nhạc Quận công, thụy làÔn Khiêm, được tặng thụy là Thông Tuấn, húy là Hiền.
- Đời thứ 8: Tiến sĩ Nhữ Đình Toản.
- Đời thứ 9. Hiển tổ khảo Hoằng tín Đại phu, thi trúng thức năm Kỷ Hợi, Quang
lộc tự Tự thừa, Viên ngoại lang bộ Lễ, thụy Hoằng Nghị, hiệu Phục Trai, húy là Đá Cộng. 
- Đời thứ 10. Hiển tổ khảo Nhữ công tự là Thanh Hiên, hiệu Ôn Cân, hủy là Đồng.
- Đời 11: Nhữ quý công, tự Hữu Hiên, hiệu Nhã Trực, húy là Hoán.
Phần cuối phụ ghi một số bài văn tế trong các tiết và một số nhánh phụ khác của họ Nhữ.
     Xét đến thời điểm năm Cành Hưng năm thứ 6 [1745], tức là lúc Nhữ Đình Toản viết lời tựa, hắn sách Tư hiếu lục đã hoàn thành, trong khi đó, phần chép về Nhữ ĐìnhToàn ghi từ lúc thiếu thời của ông đến cả ngày tháng năm mất, tên thụy [tên đặt khi đã mất, thậm chí cả lần phong tặng sau khi Nhữ Đình Toản đã mất 9 năm [1782]. Ngoài ra sách còn ghi thêm 3 đời khác, đến đời thứ 11, tức đời cháu gọi Nhữ Đình Toản bằng
cụ. Như vậy, cuốn tộc phả này ban đầu tên là Tự hiếu lục, do Nhữ Đình Toản Soạn, song chắc chắn ông chỉ có thể viết tối đa là hết đời thứ 7. Từ đời thứ 8 trở đi do hậu nhân viết thêm vào sau này, muộn nhất là năm 1906, tức năm sách được sao lục lại.
Trong quá trình lưu truyền từ năm 1745 đến 1906, có thể diện mạo ban đầu cũng đã có những thay đổi nhất định. Dẫu vậy, đây cũng vẫn là tài liệu rất quan trọng để nghiên cứu về Nhữ Đình Toản nói riêng cũng như gia tộc họ Nhữ ở Hoạch Trạch nói chung.

3. Quân trung liên vịnh (軍 中 聯 詠)
     Bản hiện còn được chép gộp trong Danh gia thi tạp vịnh (名 家 詩 雜 詠 Kíhiệu: A.1104). Lời tựa do Đệ nhị giáp chính Tiến sĩ khoa thi năm Tân Hợi [1731], phụng sai Đông An đạo Hiệp đồng, Hiển cung đại phu, Quốc Tử Giám Tư nghiệp, Hồng Ngư cư sĩ Nguyễn Hi Tư viết vào cuối xuân năm Tân Dậu niên hiệu Cảnh Hưng [1741]. Đệ tam giáp Tiến sĩ khoa thi năm Bính Thìn [1736], Phụng sai Đông An đạo Hiệp mưu, Cần sự lang, Hàn lâm viện Hiệu thảo Trạch Như Nhữ Thượng Chân viết. Nguyễn Hi Tư tức Nguyễn Nghiêm (1708-1775). Đại ý lời tựa của Nguyễn Nghiễm viết: Mùa xuân năm Canh Thân [1740], giặc nổi lên ở Hải Dương, ông vâng lệnh làm Tham tán quân sự, coi việc độc thúc quân binh tấn công sào huyệt giặc, trải một tháng, từ Gia Lâm tiến thẳng đến Đường An. Trước đây Nhữ Hội khoa [Nhữ Đình Toản], ra trấn ở Lạng Sơn, đường đi khó khăn nên vâng chỉ trở về, lại theo đường thuận tiện mà về quê. Được một tháng, lộ Hồng Châu lại thêm phân rối ren. Mùa thu, quân ta đến Mặc Dương. Sau đó tiến quân phá đồn Đình Tổ, mới được cùng Nhữ Hội khoa chu toàn. Tôi thiếu thời từng mộ thịnh danh, sau này đỗ đạt rồi lại đi làm quan ở Châu Ái, cho nên chưa được diện kiến. Một phen gặp gỡ, mấy ngày bạn hoàn, thường hận gặp
nhau quá muộn. Thế rồi tôi vào làm trong thị nội, được nắm tay cùng về. Hội khoa thì đi chiêu dụ ở Kinh - Hồng, tôi lại trung quân ở Hoan - Diễn. Đầu ngựa người này quay phía đông, người kia quay phía tây. Đến giữa mùa đông thì giặc kéo đến phía Bắc sông Nhĩ Hà, Tả tiên phong tướng quân Cổn Quận công đốc suất chư quân tiến lên giết giặc, tôi với Hội khoa bèn lại có chung mệnh lệnh, chí nghiệp cũng giống nhau. Mỗi
dịp ở chốn nhung mã ghi thơ tỏ ý, theo tháng năm thành quyền, vốn biết là việc “phú thi thoái lỗ …” (làm thơ đẩy lui giặc) thật là thẹn với người xưa. Gặp người tri kỉ thì bày tiệc rượu, làm thơ ngâm cùng Hội khoa. Nơi tình chung đúc, chính ở bọn ta vậy. Chơi cờ uống rượu, song không bỏ bê công vụ, với tình cũng có gì là tổn hại đâu.
     Trong sách gồm cả thảy 19 bài thơ thất ngôn bát cú chữ Hán Nguyễn Nghiễm 10 bài (xướng 3, họa 7), Nhữ Đình Toàn 9 bài (xướng 3, họa 6). Như vậy, đây là tập thơ tập hợp các bài do Nguyễn Nghiễm và Nhữ Đình Toàn xướng họa với nhau năm 1740, nhận được sai đi dẹp loạn ở Hải Dương, do Nhữ Đình Toản biên chép, Nguyễn Nghiễm đề tựa. Thông qua Quân trung liên vịnh có thể thấy được quan hệ tình cảm tốt
đẹp giữa Nguyễn Nghiễm và Nhữ Đình Toàn đồng thời cũng có thể biết đôi chút về các cuộc nổi dậy của nông dân ở Hải Dương năm 1740.

4. Lê triều giáo hóa điều lệ (黎 朝 教 化 條 例)
     Trên Nam Phong tạp chí số 88 năm 1924 (từ trang 322 đến hết trang 328) có phiên Nôm một bản “Điều lệ giáo hóa triều Lê” (Lê triền giáo hóa điều lệ 黎 朝 教 化 條 例), gồm 47 điều không ghi tên người phiên Nôm, cước chủ ghi: “Bài này truyền lại từ triều Lê, năm Cảnh Trị nguyên niên (1663) mùa thu tháng Bảy, thân minh các điều giáo hóa để dạy bảo dân. Đến năm Canh Thìn niên hiệu Cảnh Hưng thứ 21 (1760) - lại đem ra lục tống cho dân gian. Nguyên văn chữ Hán, quan Lại bộ Thuyên khảo ti Lang trung, người ở Hoạch Trạch, huyện Đường Yên phủ Thượng Hồng (nay là phủ Bình Giang) tên là Nhữ Đình Tán 汝 廷 瓚 diễn ra quốc ngữ”[19], “Nhữ Đình Tán 汝 廷 瓚” là cách phiên của Nam Phong tạp chí, theo chữ Hán đi kèm trong lời cước chủ, đây chính là Nhữ Đình Toản.
     Hiện trong kho sách Hán Nôm không có sách nào mang tên như trên, chỉ có bản Lê triển giáo hỏa điều luật (黎 朝 教 化 條 律- Kí hiệu: A.2570), nhưng lại là cách chữ Hán. Sách Khân định, phần ghi về năm 1663 cho biết: “Tháng Bảy, mùa thu. Ban bố rõ giáo điều cho trong nước. Đại lược giáo điều nói: Làm tôi phải hết lòng trung với vua; làm con phải giữ đạo hiếu, anh em hòa thuận với nhau, vợ chồng kính yêu lẫn nhau .. Giáo điều này tất cả 47 điều, ty Thừa chính, Hiến sát các xứ và phủ, huyện, châu, mỗi nha môn phải sao một bản treo ở công đường làm việc. Ở các làng, thì xã trưởng chép vào một tấm biển treo ở trong đình, cứ ngày hương ẩm hội họp già trẻ, trai gái trong làng, rồi đem giáo điều giảng đọc hiểu bảo, khiến mọi người biết mà khuyên răn để tiến lên phong tục tốt đẹp”[20]. Đến phần ghi về năm 1751, lại cho biết, tháng Sáu, “Lại ban bố rõ giáo điều đời Cảnh Trị. Năm Cảnh Trị thứ nhất (1663), Phạm Công Trứ giữ công việc trong chính phủ, phụng mệnh làm giáo điều gồm 47 mục, mỗi xã đặt một viên quan, cứ ngày đầu năm và ngày xã điển đen giáo điều đọc cho dân nghe. Từ khi trong nước nhiều việc, bỏ trễ nải không nhắc đến. Đến nay hạ lệnh cho sức rõ lại, nhưng nhân dân có ý lơ là, coi như việc không đáng để ý đến”[21]Như vậy, theo Khâm định, Lê triền giáo hóa điều luật bản chữ Hán do Phạm Công Trứ soạn, công bố năm 1663, đến năm 1751 được ban bố lần thứ 2. Sự kiện này chỉ thấy trong Khâm định, không thấy trong Tục biên.
     Bản Lê triều giáo hóa điều luật hiện còn mở đầu ghi các điều luật được định ra vào tháng Bẩy, mùa thu năm Cảnh Trị nguyên niên [1663]. Nhưng về việc công bố lần thứ hai lại cho biết “Đến mùa xuân năm Canh Thìn, niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 21 [1760], lại làm rõ, chuyển đến giao cho các nha lại ở các nha môn, thi hành. Các quan hai ti Thừa hiến phân cho các quan ở các phủ, huyện, châu thông sức cho chức trưởng các phường, xã, thôn, trang trại, vào dịp tiết đán cầu phúc xã điển, tập trung trai gái lớn nhỏ giảng giải dẫn dụ nhiều lần cho thật rõ ràng, để khiến cho kẻ ngu phu, ngu phụ, trẻ con... cũng biết rõ lẽ khuyến trừng mà theo về phong tục thuần hậu, hưởng phúc thái bình. Hoặc có kẻ nào bỏ phế không chịu theo thì đã có hành pháp xử trí”. Kế đó là 47 điều quy định, nội dung tương đồng như Khân định đã khái lược.
Như vậy, Lê triều giáo hóa điều luật hiện còn chính là bản điều lệ của triều Lê từng được Khâm định đề cập.
     So sánh nội dung hai bản Lê triều giáo hóa điều luật (bản chữ Hán do Phạm Công Trứ biên soạn) với bàn Lê triều giáo hóa điều lệ (phiên Nôm) được Nam Phong tạp chí cho là của Nhữ Đình Toản, có thể thấy Lê triều giáo hóa điều lệ chính là bản phiên dịch 47 điều trong bản điều luật Hán văn. Phần mở đầu viết:
Trời Nam vững đặt âu vàng,
Bến tình tăm bặt ải lang khói tàn,
Bốn phương ấm chiếu đã an,
Muốn cho phong tục đổi ngoan về thuần.
Giảo điều noi phép tiên quân,
Mượn cầu quốc ngữ để răn trong ngoài.

Sau khi đã diễn Nôm đủ 47 điều, sách kết lại bằng đoạn sau:
Này bốn mươi bẩy điều răn,
Cai nha môn phải khác tuân phụng hành.
Thì thường chuyển tống trách mình,
Khiến cho phường xã đàn anh tương truyền.
Hễ ngày kì phước xã điền,
Hội đồng nam nữ giải khuyên mọi người.
Hai ba lần nhủ rạch ròi,
Khiến cho già trẻ cùng loại phàm sĩ,
Tai nghe mắt thấy điều hay,
Khuyến trùng rõ biết phép này đinh ninh,
Để cho về thói ở lành,

Đều càng hưởng phúc thái bình lâu xa.
     Đối chiếu toàn bộ bản diễn Nôm, chỉ có 6 câu mào đầu nội dung không có trong bản điều luật chữ Hán, còn đoạn cuối cùng vẫn là diễn Nôm phần mở đầu của bản điều luật.
     Về phương thức diễn Nôm, các đoạn diễn Nôm nhìn chung là sự chuyển dịch một cách trung thành so với nguyên bản Hán văn. Chẳng hạn điều thứ 36, bản Hán văn viết: “Phàm là Kinh, Sử, Từ, Tập, cho tới văn chương, có ích cho thế giáo mới được khắc in lưu hành. Như các sách về Đạo [giáo], Thích [đạo Phật], dị đoan tà thuyết, cùng các truyện bằng Quốc âm, tới thơ ca dâm đãng, không được khắc in, đặng tổn hại đến phong hóa 凡 經 史 子 集 及 文 章 有 裨 於 世 教 者,方 可 刊 板 通 行 .若 道 釋 異 端 邪 說 諸 書,並 國 諸 傳,及 歌 詩 涉 於 淫 蕩 者,不 可 刊 板 印 刻,以 傷 風 化”.  Được  diễn Nôm như sau:
Ngũ kinh chư sử xưa nay,
Với chư từ tập cùng bày văn chương
Dạy bèn có ích đạo thường,
Mới nên san bản bốn phương thông hành.
Kì như Thích - Đạo phi kinh,
Lời tà mối lạ tập tành chuyện ngoa.
Cùng là chuyện cũ nôm na,
Hết thơ tập ấy lại ca khúc này.
Tiếng dâm dễ khiến người say,
Chớ cho in ấn hại nay thói thuần.
     Các triều đại quân chủ Việt Nam vừa nhìn chung vốn không chuộng tác phẩm viết bằng chữ Nôm, thậm chí có thái độ khinh thị, cho là “Nôm na mánh khóe”. Tuy nhiên, đối với một số trường hợp, chữ Nôm vẫn được sử dụng trong các văn bản mang
tính quan phường. Với bản điều luật chữ Hán nói trên, tuy ở phần đầu có ghi rõ rằng các chức sắc “bắt trai gái lớn nhỏ tập trung lại, giảng giải nhiều lần, dẫn dụ cho thật rõ ràng”, song do đối tượng mà bản điều luật hướng tới là dân thường, đa số đều không
biết chữ, do đó, dẫu có giảng giải nhiều lần thì tình trạng “nói trước quên sau” vẫn có thể xảy ra. Chính vì nguyên nhân đó, dưới triều Nguyễn, bản Hoàng triều thánh dụthập điều (皇 朝 聖 諭 十 條) của Minh Mạng Soạn năm 1834, một tác phẩm mà nội
dụng, tính chất và đối tượng hướng đến gần như tương tự Lê triều giáo hóa điều luật, đã được dịch/diễn Nôm không chỉ một lần[22]. Với Lê triều giáo hóa điều luật, chính 
Khâm định cho biết, 47 điều lệ nói trên tuy đã được phổ biến rộng khắp song ngay đến lần phổ biến thứ hai, dẫu đã “hạ lệnh cho sức rõ lại, nhưng nhân dân có ý lơ là, coi như việc không đáng để ý đến”. Vì lẽ ấy, việc diễn Nôm tác phẩm để phổ biến cho toàn dân là điều hoàn toàn có thể xảy ra. Nói cách khác, dưới triều Lê - Trịnh, triều đình đã ban hành 47 điều lệ, đã phổ biến rộng rãi và giải thích tường tận cho nhân dân cả nước. Song do các điều lệ được viết bằng chữ Hán, để người dân dễ thuộc, dễ nhớ, rất có thể triều đình đã giao cho Nhữ Đình Toản diễn Nôm các điều lệ nảy ra thể thức thơ lục bát. Tuy nhiên, chỉ có Nam Phong tạp chí ghi nhận sự việc nói trên, hiện không còn tài liệu nào khác để kiểm chứng thêm. Trong khi ấy, bản diển Nôm các điều lệ về ngôn từ nhìn chung đều dễ hiểu, rất hiếm dùng các từ ngữ cổ, ngôn ngữ tác phẩm dường nhưcó vẻ “hiện đại” hơn so với ngôn ngữ tiếng Việt thời điểm nửa sau thế kỉ XVIII. Dođó, nếu chỉ dựa vào sự ghi nhận của Nam Phong tạp chí, rất khó để hoàn toàn xác quyết rằng đây chính là tác phẩm điện Nôm của Nhữ Đình Toản.

5/ Các tác phẩm khác:
     Ngoài các sách đã đề cập ở trên, Nhữ Đình Toản còn một số tác phẩm, nằm rải rác trong các tài liệu khác nhau.
a. Chế sắc biểu khải văn tập (制 敕 表 啟 文 集-A.2832/1-2): trong sách có các tác phẩm sau:
- Bài chế phong cho Việp Trung hầu lên tước Việp Quận công (Phong Việp Trung hầu vi Việp Quận công chế văn 封 曄 忠 侯 為 曄 郵 公 制文), ghi “Thượng thư Nhữ Đình Toản phụng soạn 尚 書 汝 廷 瓚 奉 摆”
- Bài chế văn phong cho chưởng Ngự y viện kiêm Quận công (Phong Chưởng Ngự y viện kiêm Quận công (Xuân Lũng Nguyễn Thế Khoa) chế văn 封 掌 御 醫 院 兼 郡 公 (春 隴 社 阮 世 科 制 文), do “Thượng thư Nhữ Đình Toản soạn” (尚 書 汝 廷 瓚 摆).
- Tờ khải của các quận hai ban [văn, võ] dâng mừng ngự giá về cung (Lưỡng ban quan tiến hạ ngự giá hoàn kinh khải 兩 班 官 進 賓 御 駕 還 宫 啟), ghi do “Hành Tham tụng Nhữ Đình Toản soạn 行 參 從 汝 廷 鑽 撰”.

b. Đại Mỗ Nguyễn tộc Tai đại vương phả kí (大 某 社 阮 族 三 大 王 譜 記, -VHv. 1337):
- Bài bị kí miếu Hữu ti giảng Đại vương (Hữu ti giảng Đại vương miếu bi kí 右司講大王廟碑記), ghi do Nhữ Đình Toản, Lê Hữu Kiều, Nghiêm Bá Đĩnh soạn.

c. Thịnh thế giới văn tập (盛 世 佳 文 集. - A.438): trong sách có các bài: 
- Bài tựa viết cho các quan viên ở huyện Cẩm Giàng chúc mừng Nguyễn Quý Hầu ở Thu Lãng đỗ Tiến sĩ (Cẩm Giàng huyện quan viên hạ Thu Lãng Nguyễn Quý Hầu đăng Tiến sĩ tự đề 錦 江 縣 官 員 贺 秋 浪 阮 貴 侯 登 進 士 叙), viết vào mùa thu năm Giáp Tuất niên hiệu Cảnh hưng năm thứ 15 [1754].
- Bài thơ mừng Kim tử vinh lộc đại phu, Nhập thị Bồi tụng, Ngự sử đài Phó đô Ngự sử, Hành Binh bộ Tả thị lang, kiêm Quốc Tử Giám Tư nghiệp, Bí thư các Học Sĩ Lễ Trạch hầu Nguyễn đài công, vinh thang Binh bộ Thượng thư về trí sĩ, chép trong bài tựa tự viết của Nguyễn Bá Lân nhân khi về trí sĩ (Hầu tử Bá Lân tinh lực, tự tự trí sĩ lục 侯 子 伯 粦 并 錄,自 敘 致 仕 錄), chép chung cùng thơ các quan triều đường chúc mừng.
   Nguyên văn:                  Phiên âm:
文 章 德 業 有 規 程    Văn chương đức nghiệp hữu quy trình,
司 馬 今 人 識 姓 名    Tư mã kim nhân thức lệnh danh.
黃 閣 方 隆 台 斗 望    Hoàng các phương long Thai Đẩu vọng,
綠 堂 已 爽 竹 煙 情     Lục đường dĩ sáng trực yên tình.
極 知 君 子 時 行 止     Cực trị quân tử thi hành chí,
卻 為 吾 儒 係 重 輕     Khước vị ngô Nho hệ trọng khinh.
咫 尺 佇 瞻 徽 範 近     Chỉ xích trữ chiếm huy phạm cận,
驩 知 共 覺 慰 平 生     Hoan tri công giác ủy bình sinh.
 
Dịch nghĩa:
Văn chương đức hạnh vốn có khuôn mẫu,
Người ngày nay đều biết tên tuổi của quan Tư mã.
Nơi gác vàng[23], đang có danh vọng như sao Thai sao Đẩu[24],
Nơi nhà Lục Dã đã vui với tình khói trúc.
Vốn rất biết người quân tử có lúc thi hành, có lúc ngơi nghỉ,
Bởi lẽ điều đó có liên quan đến sự nặng- nhẹ của nhà nho ta.
Trong khuôn mẫu tốt đẹp ở gần ngay gang tấc,
Vui vì cùng biết là đã được an ủi chỉ binh sinh.
- Bài điếu văn viết thay Đại nguyên soái Minh vương điếu tế các tướng sĩ trước
trận ở đàn Trung Sa (Đại nguyên soái Minh Vương ủy điếu Trung Sa đàn trận tiền tướng sĩ văn - Hoạch Trạch Thượng thư quan Nhữ Đình Toàn công phụng nghĩ 大 元 師 明 王 慰 争 中 沙 壇 陣 前 將 士 文 一 群 澤 尚 書 官 汝 廷 璜 公 奉 擬)

d. Việt thì tục biên (越 詩 續 編- VHv92): có ghi 1 bài thơ của Nhữ Đinh Toản làm thay thơ ngự chế đáp tăng sứ nhà Thanh là Cổ Nhữ Tu (Phụng nghĩ ngự chế đáp Đại Thanh sách sử Đức Bảo Cố Nhữ Tu奉 擬 御 製 答 大 清 册 使 德 保 顧 汝 修):
Nguyên văn:                  Phiên âm:
月 朗 中 天 萬 象 明    Nguyệt lãng trung thiên vạn tượng minh,
使 華 光 彩 耀 宜 京    Sử hoa quang thái điệu nghi kinh
親 承 風 語 知 堯 溪    Thân thừa phượng chiếu tri Nghiên ốc,
迎 接 繁 儀 見 爱 民    Nhĩ tiếp loan nghi khiến Thuấn dân.
一 路 賢 勞 嵐 霧 齋    Nhất lộ hiền lao lam vụ tễ,
億 年 聖 澤 海 波 清    Ức niên thánh trạch hải ba thanh.
歸 來 宣 室 承 清 問    Quy lai Tuyên thất thừa thanh vấn,
銅 柱 南 來 總 教 生    Đồng trụ Nam lại tổng giáo sinh.

Dịch nghĩa:
Trăng sáng giữa trời, muốn vật đều sáng tỏ,
Sứ hoa[25] rạng rỡ chiếu rạng ở kinh đô.
Đích thân vâng theo chiều thư, biết đó thấm nhuần ấn trạch của Đế Nghiêu,
Được tiếp loan nghi ngay bên cạnh, thấy dân thời đế Thuấn[26]
Con đường đi đầy vất vả của bậc hiền năng, khí lam chướng quang đãng,
Muôn vạn năm ấn trạch của bậc thánh, như sóng bể trong.
[Sứ giả] trở về nơi Hoàng cung, như có được Hoàng đế hỏi đến,
[Xin hãy nói rằng] phía nam cột đồng[27] thảy dân chúng đều được giáo hóa.

e. Cầm tuyền vinh lục ( 錦旋榮錄- A1324): chép 1 bài thơ của Nhữ Đình Toản chúc mừng Lam Sơn hầu Mai Danh Tông về trí sĩ.
Nguyên văn:                    Phiên âm:
揚 歷 多 年 的 俊 髦    Dương lịch đa niên đích tuần mao,
完 名 端 足 慰 吾 曹   Hoàn danh đoan túc ủy ngô tào,
逸 情 已 逐 齊 浮 艇   Dật tình dĩ trục Tề Phù đĩnh,
壯 志 猶 存 魯 孟 勞   Tráng chí do tồn Lỗ Mạnh lao.
香 積 寺 新 歌 浩 浩   Hương Tích tự tiền ca hạo hạo,
演 溪 江 上 樂 陶 陶   Độc Khê giang thượng lạc đào đào.
詢 黃 會 有 鐵 書 下   Tuân hoàng hội hữu trung thư hạ,
寧 許 園 林 獨 養 高   Ninh hứa viên lâm độc dưỡng cao,
Địch nghĩa:
Làm quan nhiều năm, đích thị là người tài giỏi,
Danh tiếng vẹn toàn đủ để an ủi chúng ta.
Tình cảm khi nhàn dật đã bơi thuyền trên sông nước Tề,
Trang chí vẫn hừng hực như Mạnh Tử người nước Lỗ[28].
Hát vang vang trước chùa Hương Tích,
Vui tưng bừng trên sông Độc Khê.
Hỏi người tuổi già có khi đọc sách rằng,
Cớ sao riêng nuôi dưỡng sự thanh cao của mình ở chốn điền viên?


f. Niên phả lục (年 譜 錄): Sách của Phó đô ngự sử Trần Tiến, trong sách có phần ghi chép thơ văn chúc mừng của các quan trong triều họa mừng nhân dịp Trần Tiến về trí sĩ (Nguyễn Đăng Na sưu tầm, khảo dịch, chú thích và giới thiệu)[29] do Nhữ Đình Toản thực hiện. Trong phần này ngoài các bài thơ của các quan chức đương thời khác, có 1 bài thơ của Nhữ Đình Toàn.
     Ngoài các sách, các tác phẩm lẻ tẻ nói trên, Nhữ Đình Toản còn có một số bài thơ, văn bia (soạn và nhuận sắc: Nhâm Dầa khoa Tiến sĩ đề danh kí 壬 申 科 進 士 题 名 記 - Bài kỉ ghi danh Tiến sĩ khoa thi năm Nhâm Dần [1752], Cảnh Hưng thập bát niên Đinh Sửu khoa Tiến sĩ đề danh kí 景 興 十 八 年 丁 丑 科  進 士 楚 名 記
- Bài kí ghi tên Tiến sĩ khoa thi năm Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hùng năm thứ 18 [1757], Nhâm Thìn khoa Tiến sĩ đề danh bi kí 壬 辰 科 進 士  题 名 碑 記- Văn bia ghi tên Tiến sĩ khoa thi năm Nhâm Thìn [1772] - nhuận sắc, v,v...), vân sách... chép rải rác trong nhiều sách khác nhau song số lượng không lớn.

     Lược khảo về cuộc đời và sự nghiệp trước tác của Nhữ Đình Toản, dễ nhận thấy các tác phẩm quan trọng của ông đều liên quan đến sự vụ chính trị, thông qua đó có thể biết thêm về tổ chức bộ máy, chức năng - nhiệm vụ của các quan chức, chủ trương cai trị của triều đình Lê - Trịnh đương thời. Riêng về thơ của ông, hầu như tất cả đều là họa đáp, tiễn tặng đồng liệu hoặc viết thay cho vua chúa. Tuy là người có tài
năng học vân và văn chương song dường như sinh thời Nhữ Đình Toản không đụng công vào việc trước thuật, sáng tác. Vì thế, trước sau ông vẫn chỉ là nhân vật chính trị mà không phải là danh gia văn học.
 
 

[1] Viện văn học
[2] Trần Văn Giáp, Tim hiếu kho sách Hoa Nam, Nxb Văn hóa, tập 1, tr 236 Quan điểm này của Trần Văn Giáp chưa lân đã dùng, vì khi nhuận sắc văn bia để danh Tiến sĩ khoa thi năm Canh Hung thư 33 (1772) do Phan Lê Phiên biện soạn, Nhữ Đinh Toản vẫn ghi là Nhữ Công Toản.
[3] Đoạn này gia phả ghi lúc đó ông (55 tuổi, năm Ất Hợi”, hẳn nhầm, vì năm Ất Hợi là năm 1755, khi đó Nhữ Đinh Toản mới 53 tuổi, trong khi đó, về việc Nhữ Đinh Toản giữ chức Tế tửu Quốc Tử Giám, theo Tục biên là vào tháng Năm năm 1756 (xem Đại Việt sử kí tục biên (1676 - 1789), Ngô Thế Long và Nguyễn Kim Hưng dịch và khảo chứng, Nxb Khoa học Xã hội, 1991, tr. 254).
[4] Phan Huy Chú, Lịch tiểu hiện chương loại chí, bản dịch của Viện Sử học, Nxb Giáo dục, 2007, tập I, . 361-362
[5] Theo Tục biên, Tháng Chín năm 1759, Nhữ Đình Toản được phong làn Thượng thư Bộ Binh, hành Tham tụng phủ liêu (bản dịch Đại Việt sử kí tuc bien (1676 - 1789), sđd, tr 262)
[6] Thơ “Ngự chế” thông thường hiểu là thơ do nhà vua làm. Tuy nhiên ở giai đoạn này, thơ do chúa Trịnh làm cũng có khi gọi là thơ ngự chế Bút tích của các chúa Trịnh hiện côn tại các di tích thường viết là Đặc bút". nhưng khi đóng triện lại là “Ngự bút". Về bài thơ này, trong phần viết về Nhữ Đình Toàn thuộc sách Lịch tiểu hiển chương loại chí, Phan Huy Chú cho là thơ của chúa Trịnh (xem: Phan Huy Chú Lịch triều hiến chương loại chi, tập 1, sđd, tr. 362).
[7] Phong thần (楓宸): chi nơi cung vua phủ chúa.
[8] Lục Dã: ngôi biệt thự của Tể tướng Bùi Độ thời Đường, là nơi lui về ẩn cư.
[9] Quốc sử quản triều Nguyễn Đại Nam nhất thống chí - Quyển 17: Tỉnh Hải Dương – Nhân vật, bản dịch của Viện sử học, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 2006, tập 3, tr.530.
[10] Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, sđd, tập I, tr. 236. Ở đây Trần Văn Giáp nhầm lẫn, vì Trung quân liên vịnh nằm trong Danh gia thi tạp vịnh 名家 詩雜詠
[11] Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, sđd, tập I, tr. 234
[12] Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, sđd, tập I, tr. 235
[13] Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, sđd, tập I, II. 235-236
[14] Đại Việt sử ký tực biên, sđd, tr. 231-232
[15]Quốc sử quản triều Nguyễn: Khân định Việt sử thông giám cương mục, bản dịch của Viện Sử học, Nxb Giáo
dục, 2007, tập II, tr.614. 
[16] Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, sđd, tập II, tr.385.
[17] Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, sđd, tập I, tr. 36.
[18] Sau khi chép hết Tẩn thận sự lục sách này còn ghi các quy định trong một số kì thi như thi Đông các, thi Sĩ
vọng. Cuối cùng ghi một số bài văn vẫn dùng để hát xướng trong các tiết.
[19] Nam Phong tạp chí, số 88 năm 1924, tr.322
[20] Khâm định Việt sử thông giám cương mục, sđd, tập II, t 298-300.
[21] Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Sđd, tap 1, tr. 17
[22] Theo Đại Nam thực lục - Chính biên, bản thành huấn này đo Hoàng đế Minh Mạng soạn năm Giáp Ngọ [1834] Sách Thượng điều huẩn địch giải âm phụ diễn ca (Kí hiệu: AB.555) chép nguyên văn 10 điều thánh huấn của Minh Mạng và có thêm phần phiến Nôm của Trần Văn Nghĩa, bản Thánh dự thập điểu diễn nghĩa ca (AB.107) ngoài chính văn 10 điểu thành huẩn còn có bản diễn âm Nôm của Dực Tông Anh Hoàng đế Tự Đức Nguyễn Phước Thi] v,v.
[23] Gác vàng (Hoàng các): chỉ sảnh đường của bậc Tan công.
[24] Sao Thai ở gần Bắc Đẩu, được dùng vị vi bật cận thần phó tả nhà vua.
[25] Sứ hoa: lấy ý từ bài Hoàng hoàng giả hoa trong phần Tiểu nhã của Kinh Thi, chỉ sứ giả.
[26] Nghiêu và Thuấn là hai vị để vương thời thượng cổ, tương truyền dưới sự cai trị của hai vị Để này, quốc gia
yên trị, nhân dân an lạc, Đây dùng hình ảnh Nghiêu - Thuấn, ngụ ý chí Hoàng để nhà Thanh.
[27] Cột đồng: đây chỉ cột đồng do Mã Viện thời Đông Hán dụng sau khi đánh bại cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng
năm 43. Cần chú ý rằng ngôn ngữ trong bài là thứ ngôn ngữ giao đãi trong quan hệ ngoại giao với nước lớn, do
đó trong trường hợp bài thơ cụ thể này ngôn ngữ, giọng điệu có phần hơi nhún nhường, nhu thuật quá mức.
[28] Mạnh Từ vốn người nước Lỗ thời Chiến Quốc, từng đi du thuyết nhiều trước, trong học thuyết Nho gia được
trọng dụng tuy nhiêu lần thất bại song luôn khát khao hành đạo.
[29] Nguyễn Đăng Na (sưu tầm, khảo dịch, chú thích và giới thiệu): Niên phả lục, Nxb. Văn học, 2003.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

GIới thiệu

BÀI 1: Trang thông tin điện tử HỌ NHỮ VIỆT NAM - Website www.honhuvietnam.com

>BÀI 2: TÀI TRỢ, ĐÓNG GÓP CHO HOẠT ĐỘNG CUẢ HỘI ĐỒNG DÒNG HỌ   Hà Nội, Ngày 01/03/2012 Kính chào các bạn đọc ! Trang Thông tin điện tử Họ Nhữ Việt Nam www.honhuvietnam.com, (.org) do Hội Đồng dòng họ Nhữ Việt Nam quản trị và điều hành. Việc xây dựng và phát triển...

Đăng Nhập

Bài viết mới nhất

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HỌ NHỮ VIỆT NAM
www.honhuvietnam.com      E-mail: honhuvietnam@gmail.com

Hotline:                                Fax : +84 4 3 863 1091