08:34 ICT Thứ bảy, 04/04/2020

Danh mục bài viết

Gủi bài viết

Các bài viết

Trang nhất » Bài viết » Lịch sử, danh nhân...

PHẢ KÝ CỦA BẠCH VÂN AM CƯ SĨ NGUYỀN CÔNG VĂN ĐẠT - Tác giả Vũ Phương Đề

Thứ tư - 29/01/2020 19:54
PHẢ KÝ CỦA BẠCH VÂN AM CƯ SĨ NGUYỀN CÔNG VĂN ĐẠT
(Bạch Vân am cư sĩ Nguyền Công Vãn Đạt phả ký*)
(Trích trong sách “Công dư tiệp ký” của Vũ Phương Đề)

    Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm dạo hiệu là Bạch Vân cư sĩ, người làng Trung Am, huyện Vinh Lại, tiên tổ ngày xưa tu nhân tích đức đã nhiều (nay không thể khảo cứu được) chỉ biết từ đời cụ tổ thì được tập phong Thiếu bảo Tư quận công: mỹ tự là Văn Tĩnh. Cụ bà được phong Chính phu nhân Phạm Thị Trinh Huệ, nguyên trước các cụ lập gia cư ở nơi có núi sông bao bọc, hợp với kiểu đất của Cao Biền.
Phụ thân được tặng phong Thái bảo Nghiêm quận công, mỹ tự là Văn Định, đạo hiệu là Cù Xuyên tiên sinh, nguyên người học rộng tài cao, lại có đức tốt, được sung chức Thái học sinh.
    Thân mẫu họ Nhữ được phong Từ Thục phu nhân, nguyên người ở An Tử Hạ thuộc huyện Tiên Minh, là con gái quan Hộ bộ Thượng thư Nhữ Văn Lan.
    Bà vốn là người thông minh, học rộng văn hay, lại tinh cả môn tướng số, ngay thời Hồng Đức mà bà đã tính được rằng vận mệnh nhà Lê chỉ sau 40 năm nữa thì sẽ suy đồi. Vì có một chí hướng phò vua giúp nước của bậc trượng phu, muốn chọn một người vừa ý mới chịu kết duyên, nên đã chờ đợi đến ngót 20 năm giời, khi gặp ông Văn Định, có tướng sinh được qúy tử nên bà mới lấy.
Nhưng sau lại gặp một trang thiếu niên trong lúc sang bên đò Hàn thuộc con sông Tuyết, thì bà ngạc nhiên than rằng: "Lúc trẻ chẳng gập, ngày nay tới dây làm gì".
    Những người theo hầu không hiểu ra sao, cầm roi đánh đuổi thiếu niên ấy đi, rồi sau bà hỏi lại tính danh, mới biết người ấy tên là Mạc Đăng Dung khiến cho bà phải sinh lòng hối hận đến mấy năm giời.
    Tiên sinh, sinh vào năm Hồng Đức thứ 21 (tức năm Tân Hợi 1491), lúc sơ sinh vóc người có vẻ hùng vĩ, khi chưa đầy năm đã biết nói, một hôm vào buổi sáng sớm, Văn Định đương bế cậu ở trên tav bỗng thấy cậu nói ngay lên rằng: "Mặt giời mọc ở phương Đông", ông lấy làm lạ. Rồi năm lên bốn thì phu nhân dạy cậu học kinh truyện, hễ dạy đến đâu là cậu thuộc lòng đến đó, và thơ quốc âm cậu dã nhớ được đến mấy chục bài.
    Lại một hôm bà đi vắng, ông ở nhà bày trò kéo dây đùa với lũ trẻ, nhân đọc bỡn một câu rằng:
Nguyệt leo cung, nguyệt leo cung, rổi ông muốn dọc tiếp câu nữa nhưng chưa nghĩ kịp, thì cậu đứng bên dọc luôn ngay rằng: Vén tay tiên nhẫn nhẫn dong. Ông thấy cậu mẫn tiệp như vậy có ý mừng thầm, đợi khi bà về thuật lại cho nghe, bà lấy làm bất mãn, nói với ông rằng: Nguyệt là tượng bề tôi, cớ sao ông lại dạy con như thế. Ông cả thẹn xin lỗi, nhưng bà vẫn không nguôi giận, bỏ về ở bên cha mẹ dẻ, cách ít lâu thì mất.
    Lại có truyền ngôn rằng: Lúc ông còn để chỏm, cùng với lũ trẻ ra tắm ở bến dò Hàn, khi ấy có một chú thuyền buôn người Tàu, nhìn thây tướng mạo của ông, chú bảo với mọi người rằng: Cậu bé này có tướng rất phú quý, chỉ hiềm một nỗi là da hơi thô, về sau chỉ làm đến Trạng nguyên Tể tướng mà thôi, vì thế nên ai cũng đoán chác rằng: ông sẽ là bậc tể phụ của quốc gia sau nầy.
Như ông lúc còn niên thiếu, học vấn sở đắc ngay tự gia đình, đến khi lớn tuổi, nghe nói có quan Bảng nhãn Lương Đắc Bằng, nổi tiếng văn chương quán thế, ông bèn tìm đến để xin nhập học. Lương Công là người ở làng Hội Trào thuộc huyện Hoằng Hóa, lúc Ngài phụng mệnh sang sứ nhà Minh, có học được phép Thái ất thẩn kinh của người cùng họ, tức là dòng dõi của Lương Nhữ Hốt (ông Hốt trước hàng nhà Minh được phong tước là Lãng Lăng Vương). Lương Công rất tinh thông về lẽ huyền vi, đem truyền lại cho ông, đến khi Ngài bị ốm nặng, lại đem con là Lương Hữu Khánh ký thác với ông, ông săn sóc dạy dỗ chẳng khác con mình, sau này ông Khánh cũng được thành đạt.
    Năm Quang Thiệu (1516-1526) gặp lúc loạn lạc, ông về ẩn cư để dạy học trò, lấy đạo làm vui, chẳng cầu danh tiếng, nhưng sang đến thời đầu niên hiệu Thống Nguyên (tức Lê hoàng đệ Thung) thì Trịnh Tuy và Mạc Đăng Dung cũng đều có ý hiếp chế Thiên tử để sai khiến chư hầu hai bên gây cuộc nội chiến khiến cho trong nước chịu cảnh lầm than, lúc ấy ông có cảm hứng một bài thơ rằng:
Phiên âm:
Thái hòa vũ trụ bất Ngu Chu.
Hổ chiến giao tranh tiếu lưỡng thù.
Xuyên huyết sơn hài tùy xứ hữu
Uyên ngư tùng tước vị thùy khu
Trùng hưng dĩ bóc độ giang mã.
Hậu hoạn ưng phòng nhập thất khu
Thế sự đáo đầu hưu thuyết trước.
Túy ngâm trạch bạn nhậm nhàn du.
Dịch thơ:
Thái hòa chẳng thấy cảnh Ngu Châu
Hai phái thù hằn chém giết nhau
Nhuộm máu phơi xương đà khắp chốn!
Xua chà đuổi sẻ vị ai đâu?
Trùng hưng đuổi ngựa qua sông trước,
Hậu hoạn phòng beo tiến cửa sau
Ngán nỗi việc đời thôi phó mặc.
Say rồi dạo suối hát vài câu.
    Sở dĩ có bài thơ trên, vì ông biết rõ nhà Lê sẽ được trung hưng, dẫu rằng ngày nay tạm phải tìm kế an thần, nhưng rồi sau đây tất nhiên sẽ lại khôi phục được nước, mà câu "beo tiến cửa sau" chỉ là nói kín đó thôi.
Quả nhiên về sau nhà Lê trung hưng, bốn phương trở lại yên tịnh, bấy giờ bạn hữu đều khuyên ông ra làm quan, đến năm 44 tuổi ông mới chịu ra ứng thí, khoa hương thí ấy ông được đỗ đầu, rồi năm sau tức là năm thứ 6 đời nhà Mạc (1535), lại ra tỉnh thì được dỗ thứ nhất, khi vào đình đối lại dỗ Tiến sĩ đệ nhất danh, được bổ chức Đông Các hiệu thư, trong thời Thái Tông nhà mạc, ông có làm hai bài thơ ”Xuân thiên ngự tửu", đều dự hạng ưu, rồi thăng chức Hữu thị lang bộ Hình, sau thời gian ngắn lại thăng chức Tả thị lang, kiêm chức Đông Các đại học sĩ.
         Trong 8 năm ở triều, ông có dâng sớ hạch tội 16 kẻ nịnh thần, xin đem chém để làm gương, bởi vì bổn tâm của ông chi muốn trăm họ đều được an vui, những người tàn tật mù lòa cũng cho họ được có nghề ca hát bói toán, nhung rồi gặp phải con rể tên là Phạm Dao ỷ thế lộng hành, vì sợ liên lụy đến mình, nên ông cáo quan xin về trí sĩ.
Thế là giữa năm Quảng Hòa thứ 2 (1542) ông mới 52 tuổi đã xin trí sĩ, treo mũ về làng, dựng am Bạch Vân ở phía tả chỗ làng ông ở, và vẫn lấy hiệu là Bạch Vân cư sĩ. Khi ấy ông có bốc hai chiếc cầu. Nghinh Phong và Tràng Xuân, để khi hóng mát, dựng một ngôi quán gọi là Trung Tân ở bến Tuyết Giang, có bia để ghi sự thực.
    Ngoài ra ông còn tu bổ chùa chiền, có lúc cùng các lão tăng đàm luận, có khi thả một con thuyền dạo chơi Kim Hải, Ức Hải để xem đánh cá. Còn chỗ danh sơn thắng cảnh, như núi An Tử, Ngọa Vân, Kính Chủ, Đỗ Sơn, nơi nào ông cũng chống gậy trèo lên, thừa hứng ngâm vịnh quên cả sớm chiều, mỗi khi thấy chỗ rừng cây xanh tốt, chim đổi giọng ca thì ông hớn hở tự đắc, quả là một vị Lục địa Thần tiên.
    Nhưng trong thời gian dưỡng lão ở chốn gia hương, tuy rằng không dự quốc chính, thế mà họ Mạc vẫn phải kính trọng như một ông thầy, những việc trọng đại thường sai sứ giả về hỏi, có khi lại đón lên kinh thành để hỏi, ông đều ung dung chỉ dẫn, nhờ được bổ ích rất nhỉểu. Xong rồi ông lại trở về am cũ, họ Mạc ân cần giữ lại cũng chẳng được nào, về sau phải liệt vào hạng nhất công thần, phong tước là Trình Tuyền Hầu dần dần thẳng đến Lại bộ Thượng thư - Thái phó - Trình Quốc Công, ông bà nhị đại cũng được phong ấm. 3 người thê thiếp với 7 người con, cũng theo thứ tự phong hàm.
    Thế rồi đến năm Cảnh Lịch thứ 3 thời nhà Mạc (tức Mạc Phúc Nguyên 1550), Thư Quốc Công người xã Khoa Hoạch huyện Thanh Oai tên là Nguyễn Thiến, con là Quyện và Mỗi về hàng Quốc triều, ông có làm một bài thơ gửi cho Thiến có những câu rằng:
Phiên: Cố ngũ tồn cô duy nghĩa tại, Tri quân xử biến khởi tâm cam.
Dịch: Ta giúp mồ côi vì trọng nghĩa, ông khi xử biến há cam lòng.
Lại có câu rằng:
Phiên: Khí vận nhất chu ly phục hợp, Trường Giang khởi hữu hạn đông nam.
Dịch: Vận chuyển một vòng tan lại hợp, Trường Giang đâu có hạn đông nam.
    Thiến xem thơ trong lòng cảm thấy bất rất, còn Quyện cũng có tướng tài, luôn luôn lập được chiến công, Phúc Nguyên lấy làm lo ngại, hỏi kế nơi ông thì ông thưa rằng: Cha Quyện với thần là chỗ bạn thân từ trước, và đã ở trong nhà thần, hiện nay được ra trấn thủ Thiên Trường, ở vào tình thế bán nghi bán tín, nay muốn dùng kế bắt lại, thực chẳng khác chi thò tay vào túi để lấy một vật gì mà thôi.
Rồi ông xin với Mạc Phúc Nguyên trao cho 100 tráng sĩ, sai đi phục sẵn ở bên bắc ngạn, ông gửi thư cho Quyện, hẹn sang bên thuyền nâng chén rượu nhạt kể lại tình xưa, rồi nhân lúc đã quá say, phục binh nổi dậy bắt cóc đưa về nam ngạn, ông mới đem ân nghĩa quốc gia để khuyên nhủ, Quyện cảm động khóc nức nở, ông bèn đần về quy thuận họ Mạc, rồi sau trở thành một viên danh tướng, nhờ dó nhà Mạc duy trì thêm dược mấy chục năm nữa.
    Trong thời gian ấy, đức Thế Tổ đã dấy nghĩa binh, thanh thế vang khắp xa gần, đánh nhau mấy trận ở cửa Thần Phù, Khiêm Vương Mạc Kính Điển đại bại, Thế Tổ thừa cơ tiến binh theo đường Tây Sơn ra đánh kinh Bắc, khiến cho trong ngoài nơm nớp lo sợ, ông hiến kế sách hư thực, họ Mạc theo đó thi hành, bây giờ trong cõi mới tạm ổn định.
Mạc Hậu Hiệp năm Diên Thành thứ 8 (1585) tức năm Ẩt Dậu tháng 11 thì ông lâm bệnh, Mậu Hiệp sai sứ đến vấn an và hỏi về quốc sự. Ông chỉ giả lời rằng: "Tha nhật quốc hữu sự cố, Cao Bằng tuy tiểu khả duyên sổ thể", nghĩa là; Sau này quốc gia hữu sự thì đất Cao Bằng tuy nhỏ cũng giữ thêm được mấy đời", ngoài ra không nói gì nữa.
Quả nhiên cách 7 năm sau thì họ Mạc mất, rồi các chúa nhà Mạc như Càn Thống, Long Thái, Thuận Đức, Vĩnh Xương, rút lui lên giữ Cao Băng được 70 năm, nghĩa là sau 3, 4 đời thì mới hoàn toàn bị diệt, coi đó thì lời của ông dự đoán chẳng sai chút nào.
Nhưng rồi trong tháng ấy giữa ngày 28 thì ông tạ thế, hưởng thọ 95 tuổi, học trò suy tôn hiệu là "Tuyết Giang phu tử", phần mộ trên một cái gò đất trong làng.
    Xét thấy Ông là người khôi ngô anh tuấn, học hết các kinh sách lại rất tinh về lý thuyết Kinh Dịch, phàm việc mưa nắng, lụt hạn, họa phúc, điềm dữ điềm lành cơ suy cơ thịnh v.v... việc gì ông cũng biết trước.
Ngay trong lúc ông còn mở trường dạy học có một học sình họ Bùi người xã Trung Hàng thuộc huyện An Dương là người rất thạo về văn án. Ông bảo hậu vận của anh thế nào cũng được giàu sang.
    Nhưng mãi đến khi tuổi gần 70 mà bước công danh vần thấy chật vật như thường, nên anh nói nhỏ với các bạn rằng: Lý sô của thầy thần diệu đến thế, mà cũng có chỗ sai nhầm hay sao. Ông thấy học trò bàn mảnh với nhau như vậy thì cũng mỉm cười chứ không nói gì. Nhưng rồi bỗng có một hôm ông bảo trò Bùi đi thuê lấy 10 chiec thuyền đánh cá, kéo buồm vượt thảng ra cửa Vạn Ninh rồi rẽ vào đậu ở trong khoảng Đầm Hồng, đợi đến đúng hôm nào đó, hễ thấy vật gì cứ vớt đem về, tất nhiên sẽ được trọng thưởng.
Trò Bùi thấy thầy dạy bảo như vậy hớn hở vui mừng, theo đúng như lời, chuẩn bị thuyền ghe kéo ra Đầm Hồng chờ đợi. Bỗng thấy một chiếc thuyền đương bị sóng gió dồn dập. Anh vội cùng đoàn thủy thủ lướt sóng tiến ra, nhìn vào trong khoang chỉ thấy có một bà lão ăn vận ra dáng cung phi, đương nằm ngất xỉu! Anh bảo gia nhân đỡ sang thuyền mình dưa về tìm phương cứu tỉnh rồi anh đưa về phụng sự như thể mẹ già.
    Sau một thời gian thì viên Tổng đốc Quảng Đông có sai sứ giả sang ta nói rằng: Vị Thái phu nhân một hôm đáp thuyền ra bể, chẳng may bị nạn phong ba, nay coi thiên văn biết rằng bà hãy còn sống, hiện ở địa phận nước Nam.Vậy xin quý quốc vì nghĩa lân bang, sai người tìm hộ, bổn chức không dám quên ơn v.v...
Lúc ấy triều đình nhà Mạc tiếp được thư trên, cho thông sức đi khắp các nơi, hứa ràng hễ ai tìm thấy sẽ được hậu thưởng. Nhận thấy lệnh trên, anh liền sắm sửa xe võng đưa bà ra hiến tại kinh thành, Mạc chúa ban thưởng rất hậu, và lại được bổ quan chức, về sau phong tước đến Thảo Quốc Công.
    Năm Thuận Bình thứ 8 (1556) Lê Trung Tông mất, không có hoàng nam nối ngôi. Thế Tổ do dự không biết lập ai, hỏi Trạng nguyên Phùng Khắc Khoan, cũng không quyết định nổi, nên mới phải sai gia nhân ngầm đem lễ vật vể tận Hải Dương để hỏi, ông không giả lời mà chỉ quay lại bảo các gia nhân rằng: "Vụ nầy lúa không được mẩy, chỉ tại thóc giống không tốt, vậy các ngươi phải đi tìm giông cũ để mà gieo mạ". Nói xong ông lại lên xe ra chùa, sai các chú tiểu quét dọn đốt nhang, ngoài ra không hề đả động gỉ đến chuyện khác bởi vì ống dã hơi tỏ cho biết cái thâm ý là "cứ việc thờ Phật thì được ăn oản" đó. Rồi Trạng Phùng thấy thế vội vàng về báo, Thế Tổ hiểu ngay bèn dón Anh Tông về lập, tình thế trong nước mới dược ổn định.
    Trong thời gian ấy, Đoan Quốc Công Nguyễn Hoàng là con Chiêu Huân Tĩnh Vương, đương lức ở trong tình thế nguy ngập vì sợ không thoát khỏi tay Trịnh Kiểm, thân mẫu của người vốn dòng họ Phạm đã được tôn là Thánh mẫu, nguyên quán ở làng Phạm Xá thuộc huyện Tứ Kỳ với ông là chỗ đồng hương, nên thường bí mật sai người về làng nhờ ông chỉ giúp cho con trai bà một dường sống. Sứ giả dặt gói bạc nén ở trước mặt ông, rổi bái lạy lia lịa.
    Ống thấy sứ giả năn nỉ xin mãi nhưng vẫn không nói gì, rồi đứng phắt lên, tay cầm chiếc gậy thủng thỉnh ra lối vườn sau, là nơi có hơn 10 tảng đá xanh xếp thành một dãy núi giả (non bộ) quanh co, trước núi lúc ấy có những đàn kiến đương men tảng đá leo lên, ông ngắm nghía chúng một lát rồi mỉm cười và dọc một câu: "Hoành Sơn nhất đái khả dĩ dung thân", nghĩa là một dãy Hoành Sơn có thể dung thân được đó. Sứ giả hiểu ý trở về thuật lại với Nguyễn Hoàng, Hoàng bèn xin vào trấn thủ Quảng Nam, đến nay hùng cứ cả một vùng đó.
Lại như trong lúc ngày thường, ông cùng môn sinh là Bùi Thì Cử , bói Dịch ứng được quẻ Càn, thế mà ông đã dự đoán rằng: chỉ sau 8 đời thì cuộc can qua nổi dậy, về sau quả đúng như lời, khoa học thần diệu thực không kể xiết.
Nói về môn sinh của ông sự thực không biết bao nhiêu mà kể, nhưng nói riêng về những người đã có tiếng tăm lừng lẫy thì có những ông như Phùng Khắc Khoan, như Lương Hữu Khánh, Nguyễn Dữ và Trương Thì Cử, đều đã nhờ ơn truyền thụ, số học từng đi đến chỗ uyên thâm, và sau đểu là các bậc danh thần trong thời trung hưng.
    Nhắc lại khi Phùng Khắc Khoan còn theo học Bạch Vân tiên sinh, lúc thành tài rồi bỗng có một đêm Tiên sinh đến chỗ nhà trọ của ông, rồi Ngài gõ cửa bảo rằng: "Gà gáy rồi đấy, sao anh chưa dậy nấu ăn, mà còn nằm ỳ ỗ đó", Khắc Khoan hiểu rõ ý thầy nên vội thu xếp lẻn vào vùng Thanh Hóa, nhưng lại ẩn cư với ông Nguyễn Dữ chứ chưa chịu ra làm quan, trong thời gian nhàn rỗi ấy, Nguyễn Dữ có có soạn ra bộ Truyền kỳ mạn lục, được ông phủ chính rất nhiều, cho nên mới thành một cuốn Thiên cổ kỳ bút. Coi dó ta thấy về việc đào tạo nhân tài để giúp cho bản triều lúc ấy, phần lớn là nhờ ở Tiên sinh vậy.
    Còn như nói về cá nhân của Tiên sinh, ta thấy Tiên sinh là người có lòng khoáng đạt, tư chất cao siêu, xử sự hồn nhiên không hề có chút cạnh góc, ai hỏi thì nói không hỏi thì thôi, mà đă nói ra câu gì thực là bất di bất dịch, dẫu rằng ở nơi thôn dã vui cảnh cúc tùng hơn 40 năm mà lòng vẫn không quên nước, tấc dạ ưu thời mần thế thường thấy chan chứa trong các vần thơ, văn chương viết rất tự nhiên không cần điêu luyện, giản dị mà rất lưu loát, thanh đạm mà nhiều ý vị, câu nào cũng có quan hệ đến sự dạy đời. Riêng về thơ phú quốc ngữ, Tiên sinh soạn cũng rất nhiểu, trước đã xếp thành 1 tập gọi tên là Bạch Vân thi tập, tất cả đến hơn ngàn bài, ngày nay sót lại độ hơn một trăm, và một thiên Trung Tân quán phú, còn thi thất lạc hết cả. Nhưng xem đại lược cũng toàn những thể gió mát giăng thanh, dẫu ngàn nãm sau vẫn còn có thể tưởng tượng thấy vậy, thử coi những câu:
Cao khiết thùy vi thiên hạ sĩ? An nhàn ngả thị địa trung tiên. Nghĩa là:
    Cao sạch ai làm thiên hạ sĩ? Thanh nhàn ta cũng địa trung tiên, đó là mấy câu Tiên sinh tự thuật chí hướng của mình thì đủ rõ vậy.
Nói về gia đình, Tiên sinh có 3 thê thiếp. Bà chánh thất họ Dương hiệu là Từ Ý, quê ở Hải Dương, cùng thuộc bổn huyện, nguyên là ái nữ của quan Hình bộ Tả thị lang Dương Đức Nhan.
    Thứ phu nhân họ Nguyễn hiệu là Nhu Tĩnh, Á phu nhân họ Nguyễn hiệu là Vi Tĩnh. Tử tức cộng 12 người, 7 trai 5 gái. Con trưởng hiệu là Hàn Giang cư sĩ, được tập ấm hàm Trung Trinh đại phu, rồi sau làm đến Phó Hiến. Con thứ hai hiệu là Tùy Am Tiên sinh, phong hàm Triều Liệt đại phu, tước Quảng Nghĩa hầu. Con thứ ba phong hàm Hiển Cung đại phu, từớc Xuyên Nghĩa bá. Thứ tư là Thuần Phu, phong hàm Hoàng Nghị đại phu tước Quảng Đô hầu. Thứ 5 là Thuần Đức tước Bá Thứ hẩu. Thứ 6 là Thuần Chính, tước Thắng Nghĩa hầu tất cả mấy người đều có lập được quân công. Rồi sau Hàn Giang sinh ra Thiết Đức, Thiết Đức sinh ra Đạo Tiến, Tiến sinh ra Đạo Thông Thông sinh Đăng Doanh, Doanh sinh Thì Đương. Lúc ấỵ Thì Đương đã 65 tuổi, sinh được 3 người con trai, đều là cháu 8 đời của Tiên sinh vậy.
    Năm Vinh Hựu nguyên niên (tức là năm At Mão 1735) người trong làng nhớ tới thinh đức của Tiên sinh, cố dựng hai tòa miếu ngay ở nền nhà của Ngài ngày trước, rồi người hàng tổng vì nhớ ơn đức cũng đến xuân thu hằng năm thì tế tự Ngài; còn người trong họ là các ông Nguyễn Hữu Lý vì sợ sau nầy gia phả sẽ bị thất lạc, nên có nhờ ta soạn một bài tựa. Ta dây sinh sản ở đất Hồng Châu, đối với Tiên sinh ngày trước dẫu là đồng hương, nhưng nay cách đã 190 năm rồi, thì còn biết đâu mà nói.
    Tuy nhiên lúc còn thơ ấu cũng thường được nghe các bậc sư phụ nói chuyện về Ngài, thì cũng chỉ biết đại khái là Cụ Trạng Trình mà thôi, may sao về sau lại được cùng với quan Đại phu bình luận những bậc tiền hiền, thì mới biết thêm một vài phần nữa, cho nên vẫn thường ước vọng có dịp thuận tiện, về nơi quê của Tiên sinh để tìm hiểu thêm nữa, nhưng vì việc quan bó buộc hóa nên chưa thực hiện được ý muốn đó thôi.
    May sao đến năm Tân Dậu niên hiệu Cảnh Hưng (1741). Ta vâng mệnh đổi đi Hồng Châu, nhận thấy cách chỗ nhà Tiên sinh chỉ trong gang tấc, thì sự tới lui kể thực dễ dàng, ngật vì việc binh bề bộn, chưa có thì giờ vãng cảnh, hóa nên tiên cảnh ở ngay trước mắt mà vẫn cảm thấy xa xa.
    Nhưng rồi đến năm Nhâm Tuất, tức là mùa xuân nãm sau, ta lại phụng mệnh phải đi bồi trúc đê sông Tuyết Giang, thì mới có dịp tới coi tấm bia ở quán Trung Tân, nhưng nét chữ đã mờ không thể đọc được, sau phải vào đền bái yết, nhân tiện hỏi người cháu 7 đời của Tiên sinh là Thi Đương để xem hành trạng, thì cũng chẳng biết thêm được lấy nửa câu. Muốn tìm các bô lão để hỏi thì sau cơn binh lửa, các cố lão cũng chẳng còn ai, duy có một viên hương ấp là Trần Bá Quang có biết sơ sơ về những việc trước, và ông lại cho coi bài phú quốc âm tức là bài văn bia ở quán Trung Tân, với 1 bổn sao Bạch Vân am thi tập, rồi nhân đó mới tìm hỏi đến những danh tích như cầu Tràng Xuân và cầu Nghinh Phong, sau cùng lại viếng nơi cố trạch, tới nơi còn thấy 3 gian nhà cổ, Thì Đương và con cháu hơn 10 người cùng ở trong đó.
    Nhìn quang cảnh trên khiến ta sinh lòng hoài cảm, bồi hồi trông ra tứ phía, thấy bên Tả am, trước mặt cái đầm lại có 4, 5 cái vụng, tất cả đến vài trăm mẫu, bề sâu độ một trượng dư, đứt rồi lại nối chỗ thắt chỗ phì, gặp lúc chiều hôm, mặt trời phản chiếu óng ánh sắc vàng, vì có khí thiêng chung đúc, hóa nên sản xuất ra bực đại nhân, thực dúng với kiểu đất đã có câu rằng: Nghiên trì thủy ánh. Nghĩa là mặt hồ nghiên ánh nước lung linh vậy. Vì thế nên ta thẩn thơ ngâm vịnh chẳng muốn dời chân, muốn vì Tiên sinh viết bài phổ ký, nhưng vì quân vụ đương ngày khẩn cấp, còn phải đeo gươm nên dành gác bút để đợi một ngày khác vậy.
Đến năm Quý Hợi (1743), vào khoảng mùa đông, ta lại phụng mệnh ra dẹp bọn thủy khấu ở mạn Đồ Sơn, nhân lúc đóng quân ở trên sông tuyêt lại vào bái yết đền thờ, hỏi bọn Thi Đương cho xem tộc phả, mọi người đều nói: Trước đây đã trải bao phen loạn lạc chăng còn sót lại quyển nào, mãi đến tháng sau họ mới sưu tầm cho được mấy chương giấy rách trong đó chỉ biên danh tính tiền nhân, ngoài ra chẳng có gì khác. Cho nên ta phải thâu thái ý kiến mọi người rồi hợp với những diều đã được tai nghe mắt thấy trong lúc ngày thường, để viết nên một bài ký, còn việc sưu tầm những văn thơ của Tiên sính, rồi xếp thành thiên đóng thành tập, dể lưu truyền cho hậu thế, thì còn đợi ở các bậc cao minh vậy.
    Nhưng ta nhận thấy Kỳ lân Phượng hoàng đâu phải là vật thường thấy ở trong vũ trụ, tất nhiên nó phải chơi ở vườn nhà Đường và núi nhà Chu thì nó mới là điềm tốt.
    Còn như Tiên sinh: Sẵn có tư chất thông tuệ, thêm vào đạo học thánh hiền, ví thử đắc thời để mà thi thố sở học, chắc sẽ tạo ra được cảnh trị bình, thay đổi phong phù tục bạc thành ra lễ nghĩa văn minh.
    Thế mà trái lại: Một người có đức đủ phò tá vương lại sinh ra giữa thời bá giả, thành ra sở học trở nên vô dụng, thực đáng tiếc thay!
Tuy nhiên đời dùng thì làm đời bỏ thì ẩn, đối với Tiên sinh dù chẳng đắc dụng cũng có hề chi. Ta rất hâm mộ Tiên sinh về chỗ đó. Thử coi sinh trưởng trên đất nhà Mạc, khi thử ra làm quan để hành sở học, thì cũng muốn bắt chước đức Khổng Phu Tử muốn vào yết kiến Công Sơn Phất Nhiễu rồi khi biết rằng không thể giúp được mà vội bỏ đi thì lại muốn theo trí sáng của Trương Lương để hỏi thăm Xích Tùng Tử.
    Nay ta đoc những văn chương còn lại, khác chi nghe thấy những tiếng ném ngọc gieo vàng, rực rỡ như mây năm sắc, sáng sủa như vừng thái dương, mà cái phong vị tắm sông Nghi, hóng mát ở cầu Vũ Vu của ông Tăng Điểm ngày trước, và cái phong thú yêu sen hái lan của tiên nho ngày xưa, hình như ta được nhìn thấy Tiên sinh và ta được bái kiên ở trong giáng trướng. Bởi vì Tiên sinh chẳng những chỉ tinh thâm một môn lý học biết rõ dĩ vãng cũng như tương lai, mà sự thực thì trăm đời sau cũng chưa thấy có ai hơn được vậy.
Ôi! Ở trong thiên hạ các bậc quân vương, các vị hiền giả hổi có thiếu chi, nhưng chỉ có lúc sống thì được phú quý vinh hoa, còn sau khi mất thi những cái đó lại cũng mai một đi với thời gian, hỏi còn ai nhắc đến nữa,
    Còn như Tiên sinh nói về thế hệ đã truyền đến 7, 8 đời, gần thi sĩ phu dân thứ ngưỡng vọng như bóng sao Đẩu trên trời, dẫu cách ngàn năm cũng còn tưởng tượng như một buổi sớm. Xa thì sứ giả Thanh triều tên là Chu Xán nói đến nhân vật Lĩnh Nam cũng đă có câu: An Nam lý học hữu Trình Tuyền, tức là công nhận về môn Lý học của nước An Nam chỉ có Trình Tuyền là người số một, rồi chép vào sách truyền lại bên Tàu. Như thế đủ biết Tiên sinh quả là một người rất mực của nước ta về thời trước vậy.
                                                                    Hậu học Ồn Đình hầu Vũ Khâm Lân
                                                                                                                  cẩn thuật
Chú thích:
(*) Bài này nằm trong sách “Công dư tiệp ký” của Vũ Phương Đề
Tác giả: Vũ Phương Đề (1698 - 1761), tự: Thuần Phủ; là một nhà văn Việt Nam ở thế kỷ 18. Ông là tác giả quyển Công dư tiệp ký (ghi nhanh lúc rỗi việc công). Vũ Phương Đề là người làng Mộ Trạch, huyện Đường An (nay thuộc xã Tân Hồng, huyện Bình Giang), tỉnh Hải Dương.
Ông là con danh sĩ Vũ Phương Nhạc. Năm 39 tuổi, Vũ Phương Đề thi đỗ Tiến sĩ khoa Bính Thìn (1736) đời vua Lê Ý Tông (cùng khoa thi với Tiến sĩ Nhữ Đình Toản), làm quan lần lượt trải chức Đông các hiệu thư, Hiệp đồng Đông Triều (Hải Dương, 1741), Đốc đồng Hải Dương (1747).
Khi thủ lĩnh Nguyễn Hữu Cầu đánh bại tướng Trần Đình Cẩn, chiếm trấn thành Kinh Bắc, tung quân đốt phá Hải Dương thì Đốc đồng Vũ Phương Đề vì quá sợ hãi đã bỏ chạy, làm rơi mất ấn tín dọc đường, nên bị cách chức. Có lẽ Công dư tiệp ký được ông sáng tác trong khoảng thời gian mất chức này.
Đây là tác phẩm bằng chữ Hán, gồm 43 thiên (truyện) với Lời tựa của chính tác giả ghi vào năm 1755. Nội dung sách là ghi chép chuyện những chuyện lặt vặt mắt thấy tai nghe xưa nay.
--------- 
NĐV sưu tầm
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

GIới thiệu

BÀI 2: Tài trợ, đóng góp cho hoạt động của Hội đồng Dòng họ Nhữ Việt Nam

 > BÀI 1: TRANG TT  ĐT HỌ NHỮ VIỆT NAM      Để tạo điều kiện cho các hoạt động của Hội đồng dòng họ Nhữ Việt Nam trong các năm 2010, 2011, quí I năm 2012. Hội đồng dòng họ Nhữ Việt Nam đã nhận được sự tài trợ, đóng góp của các cá nhân,...

Đăng Nhập

Bài viết mới nhất

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HỌ NHỮ VIỆT NAM
www.honhuvietnam.com      E-mail: honhuvietnam@gmail.com

Hotline:                                Fax : +84 4 3 863 1091