22:06 EDT Thứ sáu, 10/07/2020

Danh mục bài viết

Gủi bài viết

Các bài viết

Trang nhất » Bài viết » Lịch sử, danh nhân...

Nhữ Thị Nhuận - bậc Nữ trung hào kiệt

Thứ hai - 05/03/2012 20:33

Tác giả: Nhà giáo Vũ Đình Triều

 
Bia đá ghi công đức của bà Nhữ Thị Nhuận tại đình làng Mộ Trạch. Ảnh: Đình Văn

Chồng bà Nhữ Thị Nhuận là Vũ Phương Đẩu, ông là** con thứ tư của Cụ VŨ PHƯƠNG NHẠC với bà thiếp thứ hai, sinh năm Tân Tỵ (1701) khoa Quý Mão 1727 chỉ đỗ Sinh đồ. Ông cho rằng đây là một điều xấu hổ, mãi đến khoa năm Nhâm Tý (1732) ông mới đi thi lại và đỗ Hương Cống, vào phụng thi văn chức ở vương phủ rồi được bổ nhiệm Tư Huyền, sau làm Tự thừa Phụng chỉ Kiểm Tri Lại Phiên rồi thăng Thông chính sứ lĩnh tước Miên Trạch tử, hiệu là TRUNG THIỆT thọ 60 tuổi, ngày giỗ 26 tháng 5.
Bà là NHỮ THỊ NHUẬN người làng Hoạch Trạch (Làng Vạc) con gái thứ hai của cụ Thiềm Sự NHỮ TIỀN DUYỆT thuộc vào một danh gia vọng tộc bên đó sinh được hai gái VŨ THỊ DỰC chồng là Đại Tướng Phạm Câu1, và VŨ THỊ DIỄM, chồng là Hội nguyên VŨ MIÊN gốc người Mộ Trạch thiên cư lập nghiệp bên làng Xuân Lan (Làng Sen) huyện Lang Tài2.

Bà được mọi người đương thời và cả sau này tôn là bậc Nữ trung hào kiệt có các ký sự về Bà như sau :
Bà Nhữ Thị Nhuận thường có dịp theo chồng ra vào nơi phủ Chúa, được Chúa Trịnh Doanh biết là người mau mắn, có kiến thức cao, bảnh lãnh giỏi nên rất tin cẩn trọng nể. Có một lần Chúa trao cho Bà một vạn quan tiền để Bà tìm mua quế tốt. Bà lãnh tiền lặn lội vào tận rừng sâu Thanh Hóa để sưu tầm, nhưng khi đến đó thì gặp phải năm dân vùng này chịu thiên tai làm ruộng nương mất mùa nên tới đâu cũng thấy cảnh đói khổ, Bà thản nhiên lấy tiền Chúa gửi mua quế ra mua lương thực về phát cho dân trong vùng chỉ hơn một năm số tiền vạn quan gần hết mà quế thì chưa thu mua được bó nào. Bà cứ quanh quẩn ở vùng đó cả năm trời sau quyết định trở về nhà thu thập tài sản vốn riêng được hơn một vạn quan rồi trở lại Thanh Hóa. Một năm nữa trôi qua, Bà vẫn quanh quẩn trong vùng rừng núi Thanh Hóa mà quế vẫn chưa tìm mua được, tiền bạc tiêu pha Bà vẫn còn giúp dân nghèo đã vơi hết nửa, bà buồn bực cho rằng mình là kẻ thất tín với Chúa, nói với đám tùy tùng “Ta chắc là chịu chết ở đây chứ làm sao dám về diện kiến với Chúa được".
Một hôm tự chèo thuyền thả theo dòng suối lớn, vào tháng 9 nước suối trong vắt, bà nhìn thấy một cành cây dưới đáy suối nghi là cành quế, Bà vớt lên thì đúng như dự đoán, quan sát hai bên bờ suối, ở đây là xứ Bàu Non, bà thấy có một cây quế thật lớn, nghĩ rằng đây có thể là đầu mối của rừng quế. Bà hỏi dân trong vùng và tìm ra nhiều cây quế như vậy, tiền bạc còn lại bà bỏ ra hết để nhờ dân khai thác và mua quế, đây là loại quế mà định giá là loại quế quí hiếm (trong nhà Cụ thân sinh ra Bà vốn giỏi cả dược lý và y thuật nên Bà được hiểu biếbiết nhiều về các vị thuốc trong đó quế là một loại thuốc quí hiếm hồi đó còn phải mua ở bên Tàu). Sau đó bà trở về phục lệnh Chúa uy tín không bị suy chuyển.
Năm sau vùng bà mua quế lại mất mùa, dân chúng trong vùng rủ nhau làm loạn rối lên như ong vỡ tổ, quân triều đình đem vào cũng không dẹp nổi mà lại còn tổn thất. Thấy tình hình này, Bà NHUẬN nảy ra ý kiến xin triều đình cho bà đi dụ giặc. Triều đình nghị bàn vì biết Bà là người có bản lĩnh chẳng thua kém nam nhi nhưng cũng vẫn cho rằng Bà là phụ nữ làm sao đảm đương được việc binh nhung nên không chấp thuận.
Bà thấy vậy lại về làm đơn lần thứ hai đề xin đi, trong đơn Bà viết có đoạn : “…Thần thiếp tự nghĩ gia đình đã được thấm nhuần ân đức của các đấng quân vương, nay thấy triều đình gặp sự khó khăn đã tốn người hao của mà vẫn chưa được yên nên trong lòng rất bứt rứt vì phận tôi con. Thần thiếp trộm nghĩ giặc đánh chưa được thì nên dụ lại, nếu như việc dụ giặc được vẹn toàn thì hẳn bớt đi cảnh hao người tốn của, triều đình bớt gánh nặng binh nhung, con dân cũng được yên bề sinh sống làm ăn, thần thiếp vì đã có thời thân cận lâu dài với dân chúng miền này nên khá tỏ tường tâm ý của họ, vậy nên mới đánh bạo xin tình nguyện đếnnơi khuyên dụ nếu không trọn vẹn việc bình định thì cũng dịu được đôi phần. Thần thiếp tuy đã có chồng còn hai con gái, nhưng cũng cúi xin được phê chuẩn cho hành động, lại xin rằng nếu không bình được giặc, thần này xin chịu thi hành quân pháp…”
Bà nhờ ông anh con người Bác là Quốc lão Nhữ Đình Toản đệ đơn Bà thỉnh lên lệnh Chúa. Chúa dụ rằng : Người đàn bà này đã có lần chu toàn được việc khó, giữ được sự tín thành, nay dám tình nguyện như vậy ắt có mưu chước lạ, vậy cứ chuẩn y lời thỉnh nguyện, quả thật lấy được công trạng sau này thì sẽ trọng thưởng rồi truyềy cho phép Bà được vào Phủ diện kiến và phán : Nếu không có quyền bính trong tay thì sao làm nên được việc lớn, nay ta ban cho một thanh phương kiếm, một lá cờ huyết mao, lệnh cho quan - trọng thần trở xuống phải theo lệnh sai dụng của Bà ta. Chúa đã cho xe loan từ kinh đô về Mộ Trạch đón Bà, khi được diện kiến Chúa hỏi : Phu nhân thân gái lại gánh việc trường chinh như thế này liệu chừng có thể điều khiển được bao nhiêu quân binh? Bà khải tấu : Thiếp chỉ xin 500 người ngựa có đủ lương thực với một cờ trướng mang tên hiệu NHỮ THỊ NHUẬN là đủ. Chúa chuẩn y và cho bà xuất quân ngay lên đường trực chỉ vùng Thanh Hóa.
Khi quân Bà chuyển tới rừng Ngang, dân nổi loạn trong vùng thấy lá cờ thêu ba chữ lớn NHỮ THỊ NHUẬN cùng kéo gọi bảo nhau : Mẹ ta; người duy nhất biết thương xót chúng ta chính là Bà rồi, họ kéo ra đứng dọc hai bên đường tung hô chào mừng nồng nhiệt. Bà cho hạ trại mở tiệc khoản đãi dân chúng ba ngày ròng rã chẳng hề đả động gì đến việc quấy phá của dân đã chống lại triều đình cả. Sau cùng Bà chỉ nói : Mẹ vâng mệnh Chúa đến đây chỉ để chiêu thảo chủ các ngươi về quy thuận triều đình, tránh việc binh đao chiến trận cho dân chúng và binh sĩ đều thoát được cảnh điêu linh khổ ải mà thôi. Nếu mẹ hoàn thành được trách nhiệm này thì triều đình chẳng những không quy tội chủ của các ngươi mà còn ân thưởng là khác, d6an các ngươi lại tránh được lầm than cơ cực, nghe lời phủ dụi của Bà, dân nổi loạn trong vùng đồng lòng bảo nhau về nói lại với tù trưởng tất cả những lời nói chân tình trên khiến họ đều một lòng tin tưởng ở Bà và cùng bỏ giáo quy hàng, thế là không tốn một giọt máu, chẳng rách tới một mảng quân y mà Bà Nhuận đã khiến cho cả một vùng loạn lạc giết chóc được bình an. Quân công này của bà làm nhiều bậc trọng thần phải suy nghĩ. Đức Vua chuẩn ban cho Bà chức QUẾ HỘ THƯỢNG QUẬN PHU NHÂN3. Lại ban cho 20 mẫu ruộng làm lộc điền.
Việc mua quế của Bà Nhuận cho Chúa Trịnh ngẫu nhiên đưa tới một hậu quả khá lý thú : Quế Bà mua về đã được dùng làm vị thuốc chữa bệnh đau mắt cho Mẹ vua Càn Long nhà Thanh, sau khi đã chữa chạy nhiều mà chưa khỏi. Cũng là do bà NHUẬN là người bản lĩnh mà lại quản giao nên Bà biết được sự việc nhiều thầy thuốc chữa bệnh đau mắt cho mẹ vua Càn Long. Bà mới trình với Chúa rằng : Loại quế Bà tìm về là quý hiếm và đặc biệt có thể dùng làm phụ phương cho bài thuốc “Minh mục địa hoàng hoàn” chữa khỏi bệnh đau mắt kinh niên cho Mẹ vua Nhà Thanh. Chúa nghe lời đem quế đến tặng Vua Càn Long kèm theo bài thuốc, Bà Mẹ Vua dùng thuốc này thì khỏi bệnh đau mắt quái ác. Vua Thanh vui mừng hỏi đón sứ thần ta : Thứ quế này ở châu quận nào? Quý và tốt thật, sao chưa hề thấy trong danh mục cống phẩm. Sứ thần lựa lời tâu : Nước thần xưa nay chưa biết có quế ấy, gần đây có một phụ nữ tên NHỮ THỊ NHUẬN phu nhân của một quan chức trong triều, người ở trấn Hải Dương phủ Thương Hồng, huyện Đường An, nhân được lĩnh công vụ phải lặn lội vào rừng sâu mà tìm ra một cây quế quý. Bà ta cũng là con nhà quan có học thức giỏi y dược lý nên nhân chuyện công tác này đã thu hoạch về được chút ít để tiến vua nước thần. Nay cũng theo lời đề tiến của bà ta mà vua nước thần đem cung hiến lại thiên triều mà thôi. Vua Càn Long biết được sự tình như vậy lập tức ra lệnh cho Hiến Bát sứ Lưỡng quảng cùng phối tác với sứ thần ta đem chiếu chỉ qua phong cho bà Nhuận là “Lưỡng quốc Quế Hộ Thượng Quận Phu Nhân”, nhânđó lại phong cho Cha và Chồng Bà chức Hiển Cung Đại Phu Thiêm Sự Viện, còn Mẹ Bà được tặng danh hiệu Cẩn phu nhân.
Bà Nhuận từ thời con gái thường bị cha mẹ quở trách là tính tình ương ngạnh và cũng đem sự tình nói rõ với gia đình ông VŨ PHƯƠNG ĐẨU khi bên ông Đẩu tới dạm hỏi. Khi về làm dâu họ VŨ, bà vẫn tỏ rỏ khí khái mà lại hào phóng.
Năm Đinh Sửu (1757) Bà Nhuận nói với làng xin một mình đứng ra gánh vác việc tu tạo lại ngôi đình. Trong làng lúc đó cũng có một vị Đại khoa thấy vậy đã muốn ra để cùng góp công sức với bà trong việc này, nhưng Bà khiêm tốn khéo từ chối và thưa rằng : "Xin đa tạ ông Nghè, đợi khi làm đình có thiếu thốn gì thì xin ông giúp cho sau”. Đình làng tu tạo lại xong, không phải nhận thêm đóng góp của ai cả. Bà Nhuận đã chi ra ba nghìn quan cho việc này sau còn cúng cho làng 2 trăm quan và mười mẫu ruộng Vua ban cho Bà để lấy hoa lợi chi dùng vào việc thờ cúng từ đó về sau.

Họ hàng bên Bà ở Hoạch Trạch cũng chẳng thua kém gì bên chồng ở Mộ Trạch, cũng có nhiều người quyền quý cao sang chức trọng trong triều ngoài phủ. Phần Bà đã được phong là Lưỡng Quốc Quận Công... Cũng vì việc làm công đức của Bà đối với làng mà Bà lại không có con trai4 nên cả làng đã đồng lòng bầu Bà làm hậu thần để sau này cúng tế Bà ở đình. Khi còn sống, mỗi năm làng vào đám khi rước Thần Tổ đều có xe loan che đôi tán điều chở Bà đi theo sau kiệu Thần Tổ Thành Hoàng.
Những khi nghị bàn hay yến tiệc ở chốn đình trung, Bà luôn ngồi vào chiếu cao nhất (chiếu trải trên bệ cao nhất); nhiều vị đại thần về hưu ở làng thường hay cáo bệnh tránh mặt không dự họp để tránh ngồi chiếu dưới. Sau khi bà mất, bài vị của Bà được rước vào thờ trong hậu cung của đình, bên trái của ngai thờ Thần Tổ; trước bàn thờ có dựng một cái bia bốn mắt gọi là “bia hậu thần” cao gần bằng đầu người bia kỳ do cụ Vũ Quý Hầu VŨ PHƯƠNG LAN soạn, nội dung ghi lại công đức của Bà cùng sự nghiệp gia thế Bà và bên chồng.

Hiệu của Bà DIỆU HUỆ, ngày giỗ 30 tháng 7.
 

Tác giả: Nhà giáo Vũ Đình Triều
Nguồn: www.hovuvo.com  

Chú thích:
(*) "NHỮ THỊ NHUẬN - Bậc Nữ Trung hào kiệt" tên bài do http://www.honhuvietnam.com/ đặt dựa theo nội dung  trong bài viết của tác giả: "Bà được mọi người đương thời và cả sau này tôn là bậc Nữ trung hào kiệt có các ký sự về Bà như sau...". Chúng tôi lựa chọn lại tên bài viết vì bài này hầu như chỉ viết về bà Nhữ Thị Nhuận (chú thích này của http://www.honhuvietnam.com/ ).
(**) "Chồng bà Nhữ Thị Nhuận là Vũ Phương Đẩu, ông là" đoạn này được web. đưa thêm vào cho rõ nghĩa đoạn văn. Tại bài của tác giả không có đoạn này là do tên bài viết đặt tên là VŨ PHƯƠNG ĐẨU.
1. Có bản chép là NGÔ CẦU
2. Bút ký tại đình làng ghi là Bà có 5 con, 3 trai, 2 gái, nhưng 3 con trai đều chết sớm khi còn nhỏ tuổi.
3. Từ QUẾ HỘ có ám chỉ gia đình bà quý giá cao sang như khi dùng QUẾ CUNG để chỉ mặt trăng, tình cờ lại có sự phù hợp với chuyện Bà mua QUẾ cho Chúa Trịnh, dân làng thường gọi là Quận Quế lại hàm ý nôm na này. .
4. 3 người con trai của Bà mất sớm, bà chỉ còn lại 2 con gái

Sưu tầm: Nhữ Đình Văn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: Nhữ Thị Nhuận
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

GIới thiệu

Bài 3: LỜI CẢM ƠN

    LỜI CẢM ƠN   Để đáp ứng cho các  hoạt động của Hội đồng dòng họ Nhữ Việt Nam như: - Thăm viếng “vấn Tổ, tìm Tông”, giao lưu  giữa Hội đồng dòng họ Nhữ Việt Nam với các địa phương, tìm hiểu truyền thống, cội nguồn để viết bài giới thiệu về họ Nhữ các nơi; - Duy...

Đăng Nhập

Bài viết mới nhất

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HỌ NHỮ VIỆT NAM
www.honhuvietnam.com      E-mail: honhuvietnam@gmail.com

Hotline:                                Fax : +84 4 3 863 1091