01:19 EST Thứ năm, 21/11/2019

Danh mục bài viết

Gủi bài viết

Các bài viết

Trang nhất » Bài viết » Lịch sử, danh nhân...

Nghề làm lược tre truyền thống

Thứ tư - 07/03/2012 04:43

Ngày 30 tháng 04 năm 2009, đúng vào dịp kỷ niện 34 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, làng Hoạch Trạch (Vạc) tổ chức trọng thể lễ đón nhận hai danh hiệu cao quý: Làng nghề lựợc truyền thống cấp tỉnh và Làng Văn hóa năm cấp huyện.
Nghề lược truyền thống được truyền nghề và đưa vào sản xuất ở làng Vạc từ những năm 1698. Ông tổ làng nghề là Tiến sĩ Nhữ Đình Hiền(1), sinh ngày mùng 4 tháng chạp năm Kỷ Hợi (1657). Ông làm quan đến Đặc tiến Kim tử vinh lộc đại phu(2), Nhập nội(3) thị Tham tụng(4), Hình Bộ Thượng Thư, tước Hầu(5).

Ông là người tài giỏi, làm quan công minh nổi tiếng, được người đương thời ca ngợi qua câu ca:
     "Văn chương Lê Anh Tuấn(6)
      Chính sự Nhữ Đình Hiền"
Ông được Vua ban tặng danh hiệu: “Quốc Trung Thần, Gia hiến tử” nghĩa là “Làm quan trung với nước, làm con hiếu với cha mẹ”.
Cụ Nhữ Đình Hiền cùng vợ là Lý Thị Hiệu trong dịp sang sứ Trung Quốc năm 1697(7), đã học được cách làm lược tre. Sau đó về nước, hai cụ hướng dẫn dân làng làm nghề lược. Kể từ đó nghề sản xuất lược tre có ở làng Vạc.


Toàn cảnh Đền thờ Thánh thôn Hoạch Trạch: thờ cụ Đoàn Thượng và Tiến sĩ Thượng thư Nhữ Đình Hiền - ông tổ nghề lược tre   

Con trai của cụ là Tiến sĩ Nhữ Đình Toản(8) đã dựng phường Diên Lộc, tập hợp những người làm lược ở làng để giúp đỡ nhau trong nghề nghiệp. Sau đó Tiến sĩ Nhữ Đình Toản về trí sĩ, được Vua ban cho 16 mẫu ruộng lộc điền, ông đã dành 12 mẫu cho phường Diên Lộc lấy hoa lợi làm vốn gốc, để duy trì và phát triển nghề làm lược tre (còn gọi là lược bí, lược mau).

 Ngày xưa, lược Vạc không chỉ nổi tiếng ở xứ Đông, mà còn trở thành hàng hóa chuyển tới Kẻ chợ (Thăng Long). Cũng từ đó một số người dân làng Vạc đã ra Thăng Long để tổ chức sản xuất lược tại chỗ, tạo thành một phường nghề. Đây là tiền thân của phố Hàng Lược của Hà Nội ngày nay . Như vậy, từ xa xưa người làm lược làng Vạc xứ Đông đã tới Kẻ chợ, hình thành một phường nghề trong ba mươi sáu phố phường của Hà Nội ngày nay.

 Để ghi nhớ công ơn của ông Tổ làng nghề, năm 1993 Bộ Văn Hóa Thông tin đã cấp Bằng công nhận: Di tích lịch sử văn hóa đền thờ tiến sỹ Nhữ Đình Hiền - ông tổ nghề lược.

 Trải qua rất nhiều biến cố về thời gian và lịch sử, song nghề làm lược vẫn luôn được duy trì và phát triển. Làng Vạc, một trăm phần trăm người dân đều biết làm nghề lược. Đây là một nghề thủ công không đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật, mỹ thuật quá cao, mà rất dễ học. Từ các cụ già, đến các cháu nhỏ đều có thể tham gia các công đoạn của quá trình sản xuất ra chiếc lược tre. Con gái nơi khác lấy chồng, về làng chỉ sau một thời gian ngắn là học được nghề và cùng gia đình tham gia sản xuất lược. Nghề làm lược ở làng Vạc không giữ bí mật, không cấm đoán việc học nghề và không có lời nguyền cấm truyền nghề. Song để làm thành thạo ra được một chiếc lược tre cũng không dễ. Do vậy nghề làm lược đã có gần bốn thế kỷ, nhưng cũng không lan truyền được đi các nơi khác. Về nguyên liệu đầu vào để sản xuất ra chiếc lược rất dễ kiếm và sẵn có, chỉ là những cây tre đành hanh, cây vầu, xương trâu và nhựa sơn. Qua 10 công đoạn chính (trong gần 30 công đoạn) của quá trình sản xuất như: Pha lan, kéo bóc, trẻ nhỏ, kéo cạnh, kéo dẹp, bẻ lan, ken lược, làm nẹp, gắn lược, đánh chấu đá là ra được chiếc lược. Tuy vậy, mỗi khâu trong quá trình sản xuất cũng đòi hỏi những yêu cầu kỹ thuật nhất định, song không quá khó, ai cũng có thể học và làm được. Những người khéo tay thì sản xuất ra những chiếc lược đẹp, bán có giá trị cao hơn và ngược lại. Nhưng toàn bộ sản phẩm làm ra dù đắt hay rẻ đều được tiêu thụ hết.

 Ước tính một năm cả làng sản xuất được khoảng 8 triệu chiếc lược. Về thị trường tiêu thụ: Từ xa xưa trong làng luôn luôn duy trì một chợ ở giữa làng để mua bán lược, các vật tư làm lược theo các phiên chợ trong tháng. Từ ngày thống nhất đất nước, lược Vạc không chỉ ra Bắc,vào Nam, mà còn đi sang cả các nước bạn: Lào, Căm Pu Chia, Thái Lan v.v…đem đến cho nghề lược tre một thị trường rộng lớn . Nghề làm lược tre không chỉ những nam , nữ thanh niên khỏe mạnh, mà cả những ông già, bà cả, các cháu thiếu niên, nhi đồng, thậm chí cả những người tàn tật cũng có thể tham gia sản xuất được, miễn sao mỗi người chọn cho mình công đoạn làm lược phù hợp với điều kiện của mình là được. Nghề làm lược tiết kiệm được tất cả các nhân công dư thừa và thời gian rảnh dỗi. Mọi người có thể tham gia làm bất kể: sáng, trưa, chiều, tối. Những ngày nông nhàn, dân làng tập trung vào sản xuất lược. Do vậy nghề làm lược đã mang lại nguồn thu nhập khá lớn cho các gia đình. Những năm trước kia, khi nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, năng xuất lúa còn thấp, do vậy thu nhập chính của các gia đình trong làng chủ yếu dựa vào nghề sản xuất lược tre. Có nhiều hộ đã nuôi con ăn học thành đạt và xây dựng, kiến thiết gia đình chủ yếu bằng thu nhập của nghề làm lược này. Hiện nay nền kinh tế đang đà phát triển, có nhiều nghành nghề có thu nhập cao, mặt khác do sự phát triển của các loại lược nhựa, nước gội đầu, nên thị trường tiêu thụ lược tre đã có nhiều giảm sút, song nghề làm lược tre vẫn được duy trì và phát triển, nó vẫn mang lại thu nhập khá lớn cho nhân dân trong làng. Theo thống kê, ước tính thu nhập từ sản xuất lược năm 2008 của làng Vạc đạt 8 tỷ đồng, bằng 38 % tổng thu nhập xã hội của cả làng. Như vậy một lần nữa, nhân dân làng Vạc vẫn khẳng định về vị trí, vai trò của nghề sản xuất lược tre trong đời sống xã hội của nhân dân địa hương.

 Nguyễn Văn Thắng
Trưởng thôn Hoạch Trạch, xã Thái Học

Chú thích: (của www.honhuvietnam.com)
1. Nhữ Đình Hiền (1657-1715), đỗ tiến sỹ khoa Canh Thân 1680 là con trai Tiến sỹ Nhữ Tiến Dụng, Cha tiến sỹ Nhữ Đình Toản, Ông nội Hoàng Giáp Nhữ Công Chân, Chú ruột Bảng nhãn Nhữ Trọng Thai.
2. Đặc tiến Kim tử vinh lộc đại phu: Là hàm tản quan, vinh danh cho quan văn Chánh nhất phẩm
3. Nhập nội: Từ thêm cho các đại thần thân tín
4. Tham tụng: chức quan đứng đầu Phủ hiệu trong Phủ đường Chúa Trịnh. Thời Quang Hưng (1578 - 1599), khi xưng vương, Trịnh Tùng bỏ chức Bình chương, đặt ra chức Tham tụng nắm quyền Tể tướng. Năm 1600, triều đình chính thức công nhận chức Tham tụng đứng đầu Phủ đường, thêm hàm Dự tán Quốc chính. Năm 1787, họ Trịnh đổ, Lê Chiêu Thống bỏ chức Tham tụng, đặt lại chức Bình chương. Chức Tham tụng có những nhiệm vụ: dự họp nơi triều đình hoặc Phủ đường do nhà vua hoặc nhà chúa chủ toạ (Tham tụng thường kiêm chức quốc sư hay Thượng thư bên triều đình). Thông thường quan Tham tụng còn được giao chức Thái bảo, dạy thế tử (con trai nối ngôi chúa); chủ toạ những phiên họp hẹp của Phủ đường, gồm có các quan ngũ phủ và các quan phủ biên.
Theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam - cục XB, Bộ Văn Hoá (22/11/1992) cụ Nhữ Đình Hiền giữ chức Bồi tụng (chứ không phải Tham tụng). Bồi tụng: chức quan đại thần, đứng hàng thứ 2 trong phủ chúa Trịnh. Bồi tụng giúp Tham tụng xem xét các tờ khải dâng lên, duyệt lại các quyết định của các bộ. Bồi tụng thường do chúa Trịnh tự ý chọn dùng.
5. Tước Hầu: Dưới thời phong kiến VN  tôn thất, người có công được phong tặng các tước theo thứ tự từ cao đến thấp là: Tước Vương, tước Công, tước Hầu, tước Bá. Năm Giáp Thân (Cảnh Hưng thứ 25 -1767) do tử ấm cụ Nhữ Đình Hiền được truy tặng Thái phó, Thọ Quận Công (tước công).
6. Lê Anh Tuấn: Tiến sỹ khoa Giáp Tuất - 1694. Quê Mai Trai - Vạn Thắng - Ba Vì - Hà Nội (Hà Tây). Làm quan đến Tham tụng kiêm Thượng thư Bộ Hộ, Thái Tử Thái Bảo.
7. Theo tài liệu Khâm định Việt sử thông giám cương mục: "Đinh Sửu, năm Vĩnh Trị thứ 18 (1697) đời vua Lê Hy Tông. (Thanh, năm Khang Hy thứ 36). Tháng giêng, mùa xuân. Sai sứ thần sang nhà Thanh. Chánh sứ Nguyễn Đăng Đạo,... phó sứ Nhữ Tiến Hiền sung phái bộ nộp lễ tuế cống, nhân tiện tâu bày cả việc biên giới Tuyên Quang, Hưng Hóa nữa"
8. Nhữ Đình Toản (1702-1773) "đồng tiến sỹ khoa Bính Thìn (1936), Hội Nguyên, Đặc tiến Kim tử vinh lộc đại phu, Nhập nội thị Tham tụng, Bộ Binh Thượng Thư, cải thụ Đặc tiến Phụ quốc thượng tướng quân Đô đốc phủ Tả Đô Đốc, quyền phủ sự, đồng dự chính vụ, Trung phái hầu" (trích trong Bài ký đề tên tiến sĩ khoa Nhâm thìn 1772 - Bia số 79 do tiến sỹ Phan Trọng Phiên soạn, Nhữ Đình Toản sửa).
Theo tác giả Lê Thanh Hiền (Đặc san văn hoá tết Canh Thìn) thì người dành 12 mẫu ruộng lộc điền cho phường Diên Lộc là Cụ Nhữ Đình Hiền.

Sưu tầm: Nhữ Đình Phồn
Hiệu đính và chú thích: Nhữ Đình Văn

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

GIới thiệu

BÀI 1: Trang thông tin điện tử HỌ NHỮ VIỆT NAM - Website www.honhuvietnam.com

>BÀI 2: TÀI TRỢ, ĐÓNG GÓP CHO HOẠT ĐỘNG CUẢ HỘI ĐỒNG DÒNG HỌ   Hà Nội, Ngày 01/03/2012 Kính chào các bạn đọc ! Trang Thông tin điện tử Họ Nhữ Việt Nam www.honhuvietnam.com, (.org) do Hội Đồng dòng họ Nhữ Việt Nam quản trị và điều hành. Việc xây dựng và phát triển...

Đăng Nhập

Bài viết mới nhất

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HỌ NHỮ VIỆT NAM
www.honhuvietnam.com      E-mail: honhuvietnam@gmail.com

Hotline:                                Fax : +84 4 3 863 1091