16:06 EDT Thứ năm, 04/06/2020

Danh mục bài viết

Gủi bài viết

Các bài viết

Trang nhất » Bài viết » Lịch sử, danh nhân...

NHỮ TRỌNG THAI - Sách Đăng khoa lục sưu giảng - tác giả TS Trần Tiến

Thứ tư - 29/01/2020 07:17
 
 
 
NHỮ TRỌNG THAI

    Người làng Hoành-Trạch, huyện Đường-An, tỉnh Hải- Dương, Gia thế nhà ông đời đời đăng-khoa. Ông nội là Nhữ Tiến Dụng(**), 42 tuổi, đậu Tiến-Sĩ khoa Giáp-Thìn, niên hiệu Cảnh-Trị, triều vua Lê- Huyền-Tôn; chú họ của ông là Đình-Hiền đều là người có danh tiếng, nên đời có câu rằng :
Văn chương Lê-Anh-Tuấn
Chính trị Nhữ-Đình-Hiền
Dịch nghĩa :
Giỏi văn chương như ông Lê-Anh-Tuấn ;
Giỏi chính trị như ông Nhữ-Đình-Hiền.
    Lại còn người em họ của ông là Nhữ-Đình-Toản, 34 tuổi, đậu tiến sĩ khoa Bính-Thìn, niên hiệu Vĩnh-Hựu (triều vua Lê). Ông là  bác của Công-Chấn. Họ Nhữ làng Hoành-Trạch cũng nổi tiếng bằng họ Vũ làng Mộ-Trạch. Năm 38 tuổi, ông đậu Bảng-Nhãn khoa Quý-Sửu niên hiệu Long-Đức đời vua Thuần-Tôn, nhà Hậu Lê. Trước ngày vào Đình-thí, các ông đồng khoa muốn cùng kéo nhau đi cầu mộng ở Châu-Vũ- Quán (ở phía bắc thành Hà-Nội), nghĩa là muốn dự biết công việc thi Đình. Ông vì mắc bận việc, không đi, nên giỡn chơi nói : « Các anh có đi, thì cầu giùm tôi nhé ». Rồi các ông này đi. Đêm hôm đó thấy thần báo mộng rằng « Tam khôi thiên hạ là Thái-Công ». Sáng hôm sau thì mọi người đều không hiếu ra sao, nên đều kéo cả về nhà ông kể mộng cho ông nghe, và nói là không hiểu là ý nghĩa thế nào ! Ông liền đáp rằng : « Tôi nhờ các anh cầu giùm tôi, là Thần bảo tôi », các ông này liền hỏi lại. Ông nói chữ Thái-Công, nói lộn lại, chả phải Cống-Thai là gì, mọi người đều cho là phải và lấy làm lạ.
    Đến hôm Đình-thí, quả nhiên ông đỗ Bảng-Nhãn, khoa này có người Vân-Canh, huyện Từ-Liêm, là ông của Trần-Hiền cũng đi cầu mộng, thần bảo rằng : « Khoa này cả họ nhà ngươi đỗ » cũng không hiểu ra sao. Đến khi ra bảng, họ Trần đỗ 6 người, phần nhiều là học trò của ông.
    Ông Đình-Hiền, 22 tuổi, đỗ Tiến-sĩ khoa Canh-Thân, niên hiệu Vĩnh-Hựu, Ông Nhữ-Chấn 22 tuổi đỗ Hoàng-Giáp, khoa Nhâm-Thìn, niên hiệu Cảnh-Hưng nhà Lê.
    Ông Lê-Anh-Tuấn 24 tuổi, người làng Thanh-Mai, huyện Tiên-Phong, đỗ Tiến-Sĩ khoa Giáp-Tuất, niên hiệu Chính-Hòa, triều vua Lê-Hi-Tôn.
    Đời truyền rằng : có một ông sắp ứng thí, đi cầu mộng ở Chấn-Vũ-Quán. Thần bảo khoa này đỗ Trạng Nguyên, khi tỉnh dậy mừng lắm về nhà đi đường nói với người đầy tớ rằng : « Tao đỗ Trạng-Nguyên sẽ lấy con gái nhà đó, và mở thêm cả đất người hàng xóm ở cho rộng ». Người đầy tớ nói rằng : « Ông đó là nhà giàu sang, không khi nào con gái chịu đi lấy làm hai vả lại nếu bằng ông lấy, thì đối với bà nhà ta sẽ xử trí thế nào ? » Ông nói : « Bà chủ nhà ta là người quê mùa thô tục, thì làm cái gì, xử cũng rất dễ ». Tên đầy tớ lại nói : « Thế còn đất hàng xóm thì mở làm sao được ? » Ông nói : « Tao đã đỗ Trạng rồi, thì tao mở cũng chẳng ai giữ được ». Tên đầy tớ cho là không phải, nên không dám nói. Thế rồi quả nhiên ông trượt khoa đó, ông ngờ là Thần báo mộng một cách huyền ảo. Khi về đến nhà, đêm hôm ấy lại mộng thấy Thần bảo rằng : « Thượng-đế đã cho khoa này đỗ Trạng rồi, nhưng Trạng-nguyên không có đức không nhớ câu chuyện dọc đường hay sao ? Thượng-đế phạt nghĩ một khoa và giáng xuống thứ nhì ». Khi thức dậy, lấy làm hối lắm, mới tin mộng khi trước là thực chứ không phải huyền ảo. Khoa sau ông chỉ đỗ Bảng-Nhãn, (đời vua Xuất-thế nhà Hậu-Lê) là phát ở ngôi đất này.
Than ôi ! cái cơ cảm ứng giữa trời và người sao chóng đến như thế ! Đại để đậu đại khoa là khó nhất, mà đậu khôi nguyên lại càng khó hơn nữa ! Dự vào hạng đó cố nhiên là bằng cứ vào thể đức, mà cũng tất phải căn cứ vào hạnh nghĩa nữa, nếu đức sâu xa, mà hạnh nghĩa của người ta có thiếu sót, thì ý trời cũng cân nhắc mà thưởng phạt đó. Vợ là người phối hợp với mình, xưa kia tác hợp là trời định, trong thuở hàn vi, đã nếm trải biết bao cay đắng, dù có là người thô tục quê kệch, nhưng đã giúp ta công việc nội trợ, cùng ta chịu nỗi cơ hàn thì ta nên quí trọng, chứ không nên khinh rẻ, may mà được giàu sang, thì dẫu trăm nàng Tề-Khương cũng không đổi lấy được một người vợ hàn vi thuở trước của ta. Có lẽ đâu thấy được phú quí đã vội khinh rẻ là quê mùa thô tục sao ? Lập thân như thế thật vô thiên đạo. Đối với xóm làng phải ăn ở cho có tình nghĩa, chu cấp giúp đỡ. Xưa nay đã có người bỏ của mình để giúp đỡ cho kẻ khó, lẽ đâu lại cậy mình hiển đạt, mà sang đoạt đất đai của họ để làm rộng chỗ ở của mình ? Lập tâm như thế là vô thiên đạo. Trời đã cho đỗ Trạng, thì thế đức nhà ông chắc hẳn cũng phong hậu lắm.
    Tấm lòng đùa bỡn vừa mới thốt ra lời nói, đã có sự quở phạt của trời cao thấu tới, huống chi những người thế-đức, không được bằng ông, mà lại làm những việc như thế, thì tránh sao được sự quở phạt của trời xanh ? Việc này mọi người ai ai cũng lấy đó làm gương, mà bọn học-trò chúng ta lại càng đáng răn sợ lắm.

Chú thích:
(*) Nhữ Trong Thai: Nhiều sách dịch là Nhữ Trọng Đài, do chữ 
台 có hai âm đọc là Thai hoặc Đài
(**) Đoạn dịch về gia thế có nhiều nhầm lẫn về thế thứ, họ, người biên tập đã hiệu chỉnh lại trên trên Cổng thông tin điện tử dòng họ. 

Tác giả: Trần Tiến người làng Điền Trì, tỉnh Hải Dương. Ông sinh giờ Dần ngày 8/11 năm Kỷ Sửu (1709), tên tự là Khiêm Đường, cũng có tên tự khác là Hậu Phủ, tên hiệu là Cát Xuyên, là con Tiến sĩ, Tham tụng Lễ bộ thượng thư - Diệu Quận Công Trần Cảnh, nhà nông học đầu tiên của Việt Nam. Ông đỗ tiến sĩ năm Mậu Thìn (1748), làm quan Công bộ Hữu Thị lang, Phó đô Ngự sử, tước Sách Huân Bá, là nhà sử học và nhà văn lớn ở thời Lê, tác giả các bộ sách: Đăng khoa lục sưu giảng (sử) Cát Xuyên thi tập (thơ) Cát Xuyên tiệp bút (ký) Niên phả lục (ký) Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi (ký, biên khảo)… (Ngày nay, hậu duệ Trần Tiến có nhà thơ Trần Nhuận Minh và em là nhà thơ Trần Đăng Khoa)
Tác phẩm: Tập « Đăng-Khoa-Lục-Sưu-Giảng » này do một vị Thượng-Thư triều Lê là Trần-Tiến biên soạn nói về căn bản của sự đỗ đạt, và thuật lại, để dẫn chứng, những mẫu chuyện vắn, nhấn-mạnh về phần đạo-đức, những chuyện đã thấy rõ trong mùa thi cử của thời xưa. Ngoài một vài điểm khuyết-nghi bởi sự truyền khẩu, không có minh văn, cuốn « Đăng-Khoa-Lục-Sưu-Giảng » là một cuốn sách có tính cách triết-lý do người xưa đã dựa theo ĐẠO, ĐỨC mà viết ra để răn đời.
Tên Sách là « SƯU-GIẢNG » 1 thủ nghĩa gì ? Có nghĩa là : « sự việc tuy ở trong vòng kín đáo, tế-vi, nhưng chính là căn bản của sự thi đỗ », (Đăng Khoa), nên không thể không sưu tầm đến nguồn gốc được. Việc kể ra đây, là để khuyên răn người tương lai, nên không thể không giảng giải ra được.
------------
NĐV sưu tầm
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

GIới thiệu

BÀI 2: Tài trợ, đóng góp cho hoạt động của Hội đồng Dòng họ Nhữ Việt Nam

 > BÀI 1: TRANG TT  ĐT HỌ NHỮ VIỆT NAM      Để tạo điều kiện cho các hoạt động của Hội đồng dòng họ Nhữ Việt Nam trong các năm 2010, 2011, quí I năm 2012. Hội đồng dòng họ Nhữ Việt Nam đã nhận được sự tài trợ, đóng góp của các cá nhân,...

Đăng Nhập

Bài viết mới nhất

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HỌ NHỮ VIỆT NAM
www.honhuvietnam.com      E-mail: honhuvietnam@gmail.com

Hotline:                                Fax : +84 4 3 863 1091