20:47 ICT Chủ nhật, 17/10/2021

Danh mục bài viết

Gủi bài viết

Các bài viết

Trang nhất » Bài viết » Lịch sử, danh nhân...

MỘT SỐ NÉT VỀ HOẠN LỘ CỦA TS NHỮ ĐÌNH TOẢN

Thứ bảy - 15/05/2021 16:35
MỘT SỐ NÉT VỀ HOẠN LỘ CỦA T.S NHỮ ĐÌNH TOẢN
                         PGS.TS. Nguyễn Đức Nhuệ[1]
     Trong mục Nhân vật chí của bộ Lịch triều hiến chương loại chí, sử gia Phan Huy Chú xếp Nhữ Đình Toản vào hàng 39 danh thần “phò tá có công lao tài đức” sau thời Lê Trung hưng. Sử gia họ Phan đánh giá về Nhữ Đình Toản như sau: “Ông làm tướng hơn 10 năm, cất giữ thể thống, ưa chuộng khoan hòa, rộng rãi. Thời bấy giờ khen là danh thần”[2].
     Nhữ Đình Toản sinh năm 1703 mất năm 1773 trong một gia đình nổi đời khoa bảng ở làng Hoạch Trạch, huyện Đường An, trấn Hải Dương (nay là huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương). Ông nội là Nhữ Tiến Dũng đỗ Đồng Tiến sĩ khoa Giáp Thìn (1664), làm quan đến Cấp sự trung. Cha là Nhữ Tiến Hiến, đỗ Tiến sĩ khoa Canh Thân (1680), đi sứ, trải làm đến Thượng thư bộ Hình và Bồi tụng, khi mất được tặng hàm Thiếu phó[3], Thọ quận công.
     Nhữ Đình Toản nổi tiếng thông minh từ nhỏ nhưng cử nghiệp không được hanh thông, mãi đến năm 26 tuổi (năm 1728) ông mới được dự thi Hương và đỗ Á nguyên (xếp thứ 2). Do có cha là Nhữ Đình Hiền giữ trọng chức trong triệu nên theo quy chế tập ấm, sau khi đỗ Hương cống Nhữ Đình Toản được bổ chức Tự thừa. Tự thừa là một chức quan trong Lục tự. Tiền thân của Lục tự chính là Lục viện được đặt ra từ thời Quang Thuận (1460-1469), triều Lê Thánh Tông. Về sau Lục viện được đổi làm sáu tự là: Thượng bảo, Quang lộc, Hổng lồ, Thái thường, Thái bộc, Đại lý, đứng đầu mỗi tự là Tự khanh (chánh Ngũ phẩm), Thiểu khanh (chánh Lục phẩm) và Tự thửa (chánh Thất phẩm).
     Khoa Binh Thìn (1736) niên hiệu Vĩnh Hựu đời Lê Ý Tông, Nhữ Đình Toản đỗ
Hội nguyên. Vào thi Đình, ông đỗ Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân và bắt đầu bước vào hoạn lộ bằng con đường chính thức. Thời Lê, tử Lê Thái Tông (1433-1442) trở đi, kẻ sĩ được coi trọng. Đặc biệt thời Lê Thánh Tông (1460-1497) bắt đầu định tư cách cho các Tiến sĩ. Theo quy chế thời Hồng Đức (1470-1497) chuẩn định thưởng từ cách cho các thủy Tiến sĩ (tức tân Tiến sĩ): Trạng nguyên 8 tu, Bàng nhãn 7 tư, Thảm hoa 6 tư, Hoàng giáp 5 tư, đồng Tiến sĩ 4 tư...[4] Với học vị Đồng Tiến sĩ, Nhữ Đình Toàn được thưởng tước 4 tư tương đương với hàm Chảnh bát phẩm, Hạ tự. Đối với những người đỗ Tiến sĩ, từ triều Lê Trung hưng trở về sau, chế độ đãi ngộ rất hậu, bổ nhiệm rất cao. Theo Lê Quý Đôn thi có 5 ân điển giành cho những người mới đỗ Tiến sĩ:
- Ban cho mũ áo và cân đau triều phục, cho vinh quy về quê hương, có đủ các hạng cờ quạt, nghi trượng, phường trồng và phương nhạc đón rước.
- Viên quan có trách nhiệm bắt dân làng trước hết dựng phủ đệ cho Tiến sĩ.
- Không những người đỗ Tam khôi hoặc ứng thí chế khoa trúng cách được bổ vào
viện Hàn lâm mà cả người đỗ Đồng Tiến sĩ cũng được bổ giữ chức quan trong các khoa, các đạo, không phải bổ làm quan ở phủ hoặc huyện.
- Trong mỗi khoa, một người đỗ trẻ tuổi được bổ giữ chức Hiệu thảo.
- Người nào bổ quan ở ngoài các trấn, thì bổ vào hai ty Thừa chính hoặc Hiến sát, đều trao cho chương án chính thức, không phải giữ chức Tá nhị[5].
     Phàm người mới đỗ Tiến sĩ, quan ở Bộ Lại căn cứ vào đề nghị của quan ở Bộ Lễ đưa sang, giao cho Thuyện khảo ty viết rõ ràng toàn hàm đưa sang Thông chính ty, rồi viên Tiến sĩ ấy đến ngoài cửa Đoan Môn làm lễ kham ban, lại đến Phủ đường làm lễ phụng ban.
     Theo quy định bổ nhiệm quan chức đầu tiên cho các tân Tiến sĩ được ban hành từ đời Hồng Đức (1470-1497) và được sửa đổi ít nhiều vào thời Bảo Thái (1720-1729) thì Trạng nguyên được trao chức Thị giảng, Bảng nhãn chức Thị thư, Thám hoa chức Thị chế, Hoàng giáp chức Hiệu lý, còn Tiến sĩ trao cho chức Cấp sự trung[6]. Theo quy chế, chức vụ ban đầu Nhữ Đình Toàn đảm nhiệm sau khi đỗ Tiến sĩ là chức Cấp sự trung (hàm Chánh bát phẩm). Tuy nhiên, trước đó theo chế độ tập ẩm, sau khi thi đỗ Hương cống, Nhữ Đình Toản đã được giữ chức Tự thừa (Chảnh thất phẩm) do đó chức vụ và quan hàm của ông có thể vẫn giữ nguyên (tương đương chức Hàn lâm viện Thị chế).
     Cấp sự trung là chức phó của Đô cấp sự trung trong Lục khoa. Lục khoa đặt ra bắt đầu từ Nghi Dân (1459) là: Trung thư khoa, Hải khoa, Đông khoa, Tây khoa, Nam khoa, Bắc khoa. Đời Hồng Đức sửa định quan chế mới đối đặt Trung thư khoa làm Lại khoa, Hải khoa làm Hộ khoa, Đông khoa làm Lễ khoa, Nam khoa làm Binh khoa, Tây khoa làm Hình khoa, Bắc khoa làm Công khoa. Đứng đầu các khoa Đô cấp sự trung (chánh Thất phẩm) và Cấp sự trung (chánh Bát phẩm). Chức trách của Độ cấp sự trung và Cấp sự trung có quyền được bác đi hoặc thay đổi nhân sự nếu Bộ Lại tuyển dụng không đúng nhân tài[7]. Đô cấp sự trung và Cấp sự trung ở Lục khoa tuy phẩm hàm thấp nhưng chức rất trọng. Theo thể lệ đời Hồng Đức thì “thứ tự bàn việc ở triều đường trước hết là do Ngự sử đài”. Ngoài ra, Lục khoa, đặt biệt là các quan ở Lại khoa còn tham gia xét duyệt thăng, giáng, bổ nhiệm quan lại trong các đợt khảo khoá.
     Nhữ Đình Toàn bước vào hoạn lộ trong bối cảnh chính trị - xã hội Đàng Ngoài không ổn định. Từ cuối những năm 30 (thế kỷ XVII), tình hình trật tự xã hội vàng Ngoài bắt đầu biểu hiện những diễn biến phức tạp. Dấu hiệu đầu tiên là tình trạng xiêu tán, khủng hoảng dẫn đến các cuộc nổi dậy của nông dân bùng nổ mạnh mẽ và rộng khắp, mở đầu là cuộc nổi dậy của Nguyễn Dương Hưng ở miền Thái Nguyên, Sơn Tây năm 1737. Tiếp đó, trong những năm 1739-1740 liên tục nổ ra các cuộc nổi dậy của nông dân, tiêu biểu là cuộc nổi dậy của Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ, Vũ Trác đánh ở
Hải Dương, của Hoàng Công Chất, Vũ Đình Dung ở Sơn Nam; của thủ lĩnh Tế, Bồng và Nguyễn Danh Phương ở Sơn Tây. Trong khi đó một lực lượng nổi dậy khác do nhóm quý tộc nhà Lê, đứng đầu là Lê Duy Mật cũng nổi dậy ở miền núi Thanh Hoá, Ninh Bình... khiến triều đình Lê - Trịnh phải điều quân đánh dẹp khá vất vả. Trước tình hình đất nước loạn lạc, người cầm quyền chính lúc bấy giờ là Trịnh Giang lại không đủ khả năng điều hành đất nước, quyền bính tập trung trong tay bọn hoạn quan, đứng đầu là Hoàng Công Phụ. Chúng gây bè đảng thao túng hoành hành làm cho tiêu chính rối loạn, trật tự kỷ cương xã hội bị lung lay đến tận gốc rễ. Trước thực trạng đáng lo ngại như vậy, năm 1740, một số quan lại thân tín của Trịnh Doanh đã mật bàn, tổ chức cuộc đảo chính đưa Trịnh Doanh lên ngôi Chúa, từng bước ổn định tình hình.
     Tuy nhiên trong hơn 10 năm đầu cầm quyền chính, Trịnh Doanh phải lo chuẩn bị lực lượng, tập trung đối phó với các cuộc nổi dậy của nông dân, trong đó hai cuộc nổi dậy có quy mô lớn nhất là cuộc nổi dậy của Nguyễn Danh Phương ở vùng Tam Đảo (Vĩnh Phúc) và cuộc nổi dậy của Nguyễn Hữu Cầu ở vùng Đồ Sơn (Hải Phòng).
Đến năm 1751, về cơ bản hai cuộc nổi dậy trên đều bị chính quyền Lê - Trịnh dẹp tan. Đây là thời kỳ tạo loạn, hầu hết “văn thần đều ra trận”. Nhữ Đình Toàn từng được phái theo Đốc trấn Hải Dương là Trường Khuông đi dẹp cuộc khởi nghĩa Nguyễn Tuyến, Nguyễn Cừ năm 1740 - 1741.
     Tháng 4 năm 1741, tình hình trị an ở trấn Hải Dương tạm thời ổn định, chúa Trịnh Doanh cho đặt chức Tuần thủ ở 4 đạo thuộc Hải Dương là Thượng Hồng, Hạ Hồng, An Lão và Đông Triều để vỗ về dân chúng. Nhữ Đình Toản được bổ giữ chức Hiệp đồng. Thực ra, đây không phải là một chức quan chính thức mà chỉ tạm đặt làm nhiệm vụ giúp giấy tờ, tham mưu việc quan khi hành quân đánh dẹp hoặc giúp các viên Tuân thủ chiêu tập, phủ dụ dân chúng trở về quê quán yên nghiệp làm ăn khi trật tự trị an trên địa bàn đã ổn định. Thường những nhiệm vụ này thường giao cho văn
quan đảm nhiệm.
     Tháng 7 năm 1741, Nhữ Đình Toản được cử làm Thái phỏng sứ đi xét hỏi sự trạng ở trấn Sơn Nam Hạ, cùng các viên đứng đầu các phủ, huyện vỗ về chiều tập dân chúng yên nghiệp làm ăn.
     Theo Phan Huy Chú cho biết thì Nhữ Đình Toản từng giữ chức Tự khanh trước khi vào phủ Chúa Trịnh giữ chức Tham tụng. Tự khanh là chức quan đứng đầu trong Lục tự (hàm Chánh ngũ phẩm). Lục tự bao gồm Thái thường tự giữ việc lễ nhạc, giao miếu, xã tắc, lăng tẩm, Quang lộc tự giữ việc về rượu lễ, đồ lễ, đồ ăn trong các việc tế tự, triều hội, yến tiệc, lo chứa sẵn (trừ bị) và xuất nhập cẩn thận; Đại lý tự được xét những án tâu lên vua, đưa sang Thẩm hình viện xét rõ; Thái bộc tự coi việc xe kiệu, voi ngựa; Hồng lộ tự giữ việc xướng danh thi Đình và Thượng bảo tự giữ việc đóng ấn quyển thi Hội.
     Năm Cảnh Hưng thứ 6 (1745), Nhữ Đình Toản được giữ chức Tham tụng trong phủ Chúa Trịnh[8]. Chức Tham tung bắt đầu chép trong sách Tực tư trị thông giám của Tư Mã Quang đời Tổng (Trung Quốc).
     Về các chức danh Tham tụng, Bồi tụng, tác giả Lê Quý Đôn cho hay:
“Từ thời đại Kính Tông (1600-1619) Thành tổ (tức Trịnh Tùng) hạ lệnh cho Nguyên Danh Thế, Hiến sát sứ Sơn Tây vào bồi tụng trong phủ đường bởi việc lớn trong nước, Văn tổ (tức Trinh Tráng) hạ lệnh cho Thượng thư Nguyễn Duy Thi tham thị quân mưu. Đây đều là phủ liêu dự bàn việc cơ mật, năm Dương Hoà thứ 4 (1638) đời Thần Tông, Sủng Quốc công Trình Kiều ở Tiết chế phủ, mới hạ lệnh cho Thượng thư Nguyễn Danh Thể tham tụng dự bàn quốc chính mà vẫn giữ chức Bồi tụng ở phủ chính; sau này Hoàng tổ (tức Trịnh Tạc) mở phủ đường hạ lệnh cho Tự khanh Phạm Công Trứ tham tụng, Công Trứ thăng Lễ bộ Thượng thư, cùng với Dương Trí Trạch, Lại bộ Thượng thư, đều giữ chức Tham tụng Từ đấy, Tham tụng là chức quan đứng đầu trong triều, mà Bồi tụng là chức quan thứ hai”.
     Theo tác giả Phan Huy Chủ: "Tham tung tức là Tể tưởng nhưng đó chỉ là quyền chứ không phải là chức, cho nên khi dùng người không cứ phẩm thứ, có khi Thượng thư vào làm Tham tụng, có khi Thị lang Hành Tham tụng[9]”. Như vậy giữ chức Tham tụng, Bội tụng phải là những người tài giỏi, được Chúa Trịnh tin dùng mặc dù phẩm trật chỉ ở hàng Tòng nhị phân hay Tòng tam phẩm[10].
     Sử gia Phan Huy Chú cho biết Nhữ Đình Toàn từng giữ chức Thượng thư bộ Binh. Ở nước ta, Lục bộ bắt đầu đặt đủ từ thời Lê Nghi Dân (1459)[11] Bộ Binh có nhiệm vụ giữ công việc binh nhung, cấm vệ, xe ngựa, nghi trượng, khí giới và những việc dân biên giới, quần đóng trần các trạm phố, các nơi hiểm yếu củng những việc khẩn cấp. Mỗi bộ đều có chức Thượng thư đứng đầu (hàm Tòng nhị phẩm) và Tả, Hữu thị lang đứng thứ hai (hàm Tòng tam phẩm).
     Theo ghi chép của Cương mục thì Nhữ Đinh Toản từng giữ chức Tế tửu Quốc Tử Giám cùng với Nguyễn Bá Lân (năm 1756)[12]. Theo quan chế nhà Lê, chức vụ Quốc Từ Giám được quy định như sau: Phụng mệnh trông coi nhà Văn Miếu, rèn tập sĩ tử, phải chiếu theo Chi truyền, hằng tháng theo đúng kỳ cho (học trò trường Giám) tập làm văn, để gây dựng nhân tài, giúp việc thực dụng cho nước. Đứng đầu Quốc Tử Giám là chức Tế tửu (phẩm trật hàng Tòng tứ phẩm), Tư nghiệp Quốc Tử Giám là chức phó (phẩm trật ở hàng Tòng ngũ phẩm). Năm 1756, Nhữ Đình Toản giữ chức Tế tửu Quốc Tử Giám trong khi ông vừa giữ chức Thượng thư Bộ Binh, Tham tụng. Như vậy, Tê tửu Quốc Tử Giám chỉ là chức kiêm nhiệm.
     Nhữ Đình Toản đảm nhiệm chức Tham tụng, đứng đầu Phủ liều trong khoảng 10 năm, sau đó ông chuyển sang võ ban, giữ chức Hiệu điểm. Chức Hiệu điểm nguyên tên gọi là Điện tiến độ Kiểm điểm được đặt vào thời đầu nhà Lê, có nhiệm vụ coi giữ Cấm quân, chức ở dưới Tổng quản. Đời Hồng Đức (1470-1497) định lại quan chế, đặt chức Độ kiểm điểm, lại đặt thêm Tả hữu kiểm điểm, phẩm thật ở hàng Chánh, Tòng nhị phân, Thời Trung hưng về sau vì kiêng húy Thái vương Trinh Kiếm nên đôi làm Hiệu điểm, chức phẩm vẫn theo như cũ.
      Từ chức Hiệu điểm, Nhữ Đình Toàn được thăng lên chức Tả đô đốc - chức võ quan đứng đầu một phủ quân trong Ngũ phủ, Ngũ phủ quân bắt đầu được đặt vào thời Lê Thánh Tông, niên hiệu Quang Thuận (1460-1469) gồm Trung quân, Nam quan, Bắc quận, Đông quân và Tây quấn. Mỗi phủ có chức Tà, Hữu đô đốc và các thuộc cấp. Thời Trung hưng, triều đình Lê-Trịnh đặt thêm các chức Chương phủ sự, Thự phủ sự dùng các trọng thần giữ chức này cùng với Thanh tụng, Bồi tụng bến ngạch văn bản bạc chính sự trọng đại gọi là Ngũ phủ phủ liêu. Theo quan chế thời Bảo Thái (1720-1729), chức Tủ đô đốc hàm Tòng nhất phẩm.
      Khi Nhữ Đinh Toản về trí sĩ, được đặc ân cho dự vào hàng Quốc lão. Quốc lão không phải là chức quan, chỉ là danh tôn xưng các lão thần, thưởng được tham dự triệu chính nên cũng gọi là Quốc lão tham dự triều chính. Người đầu tiên được tôn vinh Quốc lão là Nguyễn Thực vào năm Giáp Tuất (1634), khi ông được Chúa Trịnh Tráng thăng Hộ bộ Thượng thư, Thái phó về trí sĩ.
     Năm 1773, Nhữ Đình Toản mất, được tặng Thái bảo để làm danh hiệu gia thêm cho đại thần, là một chức thuộc hàng Tan công hay Tam thái. Tam thái gồm Thái sư, Thái phó và Thái bảo bắt đầu đặt ra từ đầu nhà Lý chưa phải là những chức làm việc. Về sau mới giao cho chính sự, có lúc kiêm làm chức Tể tướng.
     Đầu nhà Lê chi đặt các chức bảo và phó, chưa đặt đủ Tam thái. Đến đời Hồng Đức (1470 - 1497) định lại quan chế, liệt những chức ấy vào bậc chánh Nhất phẩm. Thời Trung hưng về sau, giai phẩm tuy theo cũ, nhưng chỉ dùng làm danh chức gia thêm cho các đại thần, không phải là chức làm việc.
     Về tước phong Nhữ Đình toàn được phong là Trạch Bá hầu. Theo quan chế Trung Quốc, về tước phong, Ngũ đảng gồm 5 bậc trước Công, hầu, bá, tử, nam. Sách Từ Hải có giải thích: Sách Lễ ký, phần Vương chế chép Tước lộc của vương chế có 5 bậc (ngũ đảng): Công, hầu, bá, tử, nam. Lời chủ của họ Khổng: 5 bậc công, hầu, bá, tử, nam chi vương chế đời Ngu Hạ nhà Chu. Đời Ân thì có 3 bậc là công, hầu, bá. Sách Mạnh Tử, thiếa Vạn Chuong chép Bắc cung Kỷ hỏi: nhà Chu ban tước lộc thể nào? Mạnh Từ trả lời: Thiên từ một ngôi, công một vị trí, hầu một vị trí. bá một vị trí, tử và nam càng một vị trí, đây là 5 bậc[13].
     Ở nước ta, việc phong tước của mỗi triều đại có khác nhau:
     Thời nhà Lý ban tước, lấy tước vương trớc công đứng đầu các thân (thân tộc của vua) huân (người có công lớn), ngoài ra thì phong tước hầu. Lại có những bậc Đại liêu ban, Nội thượng chế và Minh tự để gia thưởng cho người có công.
Thời nhà Trần thì người tôn thất được phong tước vương hoặc tước Quận vương (cũng có người là cựu thần có công được phong tước vương, còn phong cho các quan văn võ thì có các bậc như Quốc công, Thượng hầu, Quan nội hầu, Quan phục hầu, Khai huyện bá, Nội minh tự và Thượng phẩm.
     Thời Lê Sơ (Lê) Thái Tổ khởi nghĩa, phong tước cho các tướng thân, có các bậc A hậu, Thông hầu, Quan phục hầu, Trước phục hậu. Đến khi tiến đến Đông Đô thi phong tước có các bậc Thượng phẩm, Hạ phẩm, Thượng trí tự, Hạ trí tự, Đại trí tự, Minh tự, Trí tự, Đại liêu ban, Á liêu ban.
     Đời vua (Lê) Thánh Tông đã quy định: Bầy tôi có công lao và quan văn, quan võ được phong tước hầu, tước bá, lấy tên xã làm hiệu, dùng cả hai chữ, phong cho Quốc công hoặc Quận công lấy tên phủ hoặc huyện làm hiệu, được dùng một chữ... Còn trước tử, tước nam không dùng để phong cho triều thần, chỉ dùng làm quan giai để phong cho những người được tập ấm. Người con trưởng của tước hầu, tước bá thì
được phong tước tử, người con thứ được phong tước nam.
     Trong hơn 40 năm làm quan, Nhữ Đình Toản thăng tiến khá nhanh, Từ một chức quan hàm Chánh bát phẩm (1736), chỉ sau 9 năm (tức ba lần khảo khóa), Nhữ Đình Toản đã được thăng lên đến chức Thượng thư (hàm Nhị phẩm) và là vị quan đứng đầu triều (ban văn) - tức Tham tụng (Tể tướng). Điều đó cho thấy tài năng xuất chúng và uy tín của ông đối với Chúa Trịnh (Trịnh Doanh), với vua Lê và đồng liều lúc bấy giờ là rất lớn. Với sự nghiệp chính trị - văn hóa nổi bật, có thể khẳng định Nhữ Đình Toản là một Danh thần lương đống của triều đình Lê - Trịnh nửa sau thế kỷ XVIII.
 
Chú thích:
[1] Nguyễn Đức Nhuệ: Là phó Viện trưởng viện sử học Việt Nam
[2] Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, tập I, NXB Giáo dục, Hà Nội 2006, tr 362
[3] Thiếu phó: Chính xác là Thái phó (chú tích của người biên tập đăng trên trang web họ Nhữ VN.)
[4] Về các bậc thông tư xin xem phần phụ lục
[5] Lê Quy Đôn: Kiến Văn tiêu lục, Nxb VHTT, Hà Nội 2006, tr106-107
[6] Lê Quy Đôn: Kiến Văn tiêu lục, Nxb VHTT, Hà Nội 2006, tr147
[7] Phan Huy Chú: Lịch triều Hiến chương loại chí (Quan chức chí), tập I, Sđd, tr 573
[8] Quốc sử quán triều Nguyễn: Kham định Việt sử thông giám cương mục, tập II, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2006, tr 583
[9] Phan Huy Chú: Lịch triều Hiến chương loại chi (Quan chức chí), tập 1, Nxb Giáo dục, 2006.
[10] Theo quan thể đời Hồng Đức (1470-1497) và đới Bảo Thái (1720-1729) thì chức Thượng thư 6 bộ hàn Tòng nhị phần, chức Tà, Hữu thị lang hàm Tong tai phảm.
[11] Lục bộ, xếp theo thứ tự là Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình và Công
[12] Quốc sử quán triều Nguyễn, Khảm đình Việt sử thông giảm cường lực, tập II, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998, tr. 631
[13] Theo Lịch đại quan chức biểu (Trung Quốc)

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

GIới thiệu

Bài 3: LỜI CẢM ƠN

    LỜI CẢM ƠN   Để đáp ứng cho các  hoạt động của Hội đồng dòng họ Nhữ Việt Nam như: - Thăm viếng “vấn Tổ, tìm Tông”, giao lưu  giữa Hội đồng dòng họ Nhữ Việt Nam với các địa phương, tìm hiểu truyền thống, cội nguồn để viết bài giới thiệu về họ Nhữ các nơi; - Duy...

Đăng Nhập

Bài viết mới nhất

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HỌ NHỮ VIỆT NAM
www.honhuvietnam.com      E-mail: honhuvietnam@gmail.com

Hotline:                                Fax : +84 4 3 863 1091