20:41 ICT Chủ nhật, 17/10/2021

Danh mục bài viết

Gủi bài viết

Các bài viết

Trang nhất » Bài viết » Lịch sử, danh nhân...

HOẠCH TRẠCH NHỮ TỘC PHẢ - TƯ LIỆU LỊCH SỬ VỀ DÒNG HỌ NHỮ LÀNG HOẠCH TRẠCH, ĐƯỜNG AN

Thứ năm - 20/05/2021 17:21
HOẠCH TRẠCH NHỮ TỘC PHẢ - TƯ LIỆU LỊCH SỬ VỀ DÒNG HỌ NHỮ LÀNG HOẠCH TRẠCH, ĐƯỜNG AN
ThS. Đặng Anh Vân[1]
 

Hội thảo khoa học Tế Tửu Quốc tử giám Nhữ Đình Toản - con người và sự nghiệp
     Cùng với sự phát triển cùa nền giáo dục, khoa cử Nho học Việt Nam là cả một khối lượng di sản văn bản Hán Nôm được gìn giữ và lưu truyền đến ngày hôm nay. Khối lượng di sản Hán Nôm ấy đã trở thành một nguồn tài liệu nghiên cứu vô cùng phong phú, quan trọng để chúng ta tìm hiểu về cội nguồn văn hóa, lịch sử của cha ông. Cụ thể ở đây, tôi muốn nói đến một thể loại văn bản bảng chữ Hán - đó là những cuốn gia phả của các bậc tiền nhân truyền lại và qua nguồn tư liệu Hán Nôm này chúng ta có thể bổ sung thêm một số tư liệu còn khuyết thiếu của các vị khoa bảng trong các dòng họ, đóng góp vào việc nghiên cứu nền khoa cử giáo dục Nho học của Việt Nam.
     Nền khoa cử giáo dục Nho học ở Việt Nam kéo dài gần 900 năm bắt đầu từ khoa thi đầu tiên của triều Lý - khoa Minh kinh bác học mở năm 1075 và kết thúc năm 1919 dưới triều Nguyễn. Như vậy, kể từ khi tổ chức các kỳ thi cũng là lúc có nhu cầu ghi chép tên tuổi của những người đỗ đạt. Nhưng việc ghi chép này không phải được liên tục và không phải thời nào cùng được chép lại đầy đủ. Ví như ở các triều Lý - Trần - Lê có các sách Đăng khoa lục chép vể người đỗ Đại khoa như: Lịch triều đăng khoa, Thiên Nam lịch triều liệt huyện đăng khoa bị khảo (Phan Huy Ôn), Đăng khoa lục sao bản, Lịch đại đại khoa lục, Lịch đại đăng khoa lục, Đại Việt lịch đại tiến sĩ khoa thực lục và Thiên Nam lịch triều Tiến sĩ đăng khoa lục. Triều Nguyễn ghi chép về Đại khoa có: Qụốc triều khoa bảng lục (Cao Xuân Dục).... Đó là một số sách được coi là chính thống của nhà nước ban hành, ngoài ra tên tuổi của các vi khoa hảng còn được ghi chép rải rác trong những cuốn gia phả của các dòng họ khoa bảng. Tuy nhiên, phạm vi lịch sừ của các cuốn gia phả này chi bó hẹp trong dòng họ, song qua đó chúng ta cũng tìm thấy nhiều thông tin lý thú về nhân vật khoa bảng của dòng họ đó mà có lẽ do nhiều hoàn cảnh mà lịch sử lãng quên, hoặc chưa cập nhật, như: Hành trạng sự nghiệp, những câu truyện thời ấu thơ của nhân vật, những câu truyện truyền thuyết mang tính chất ly kỳ, hấp dẫn... có khi lại bổ sung cả năm sinh, năm mất... Những thông tin đó nhiều khi giúp chúng ta hoàn thiện thêm về hình ảnh một nhân vật khoa bàng nào đó, mặc dù chúng ta cũng cần xem xét kĩ đó là thông tin chính thống hay không.
     Trên tinh thần đó. trong bản tham luận này. chúng tôi xin đề cập tới những thông tin về dòng họ khoa bảng ''dòng họ Nhữ ở làng Hoạch Trạch, Hải Dương'' qua cuốn gia phả ''Hoạch Trạch Nhữ tộc phả. Cuốn văn bản này được lưu trữ tại thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, mang kí hiệu A.677, do ông Nhữ Ngọc Bỉnh sao chép lại năm Thành Thái Bính Ngọ (1906) (皇 朝 成 秦 萬 萬 年 之 十 八 歲 次 丙 午 仲 春 下  沉、後 裔 汝 玉 伻 依 本 奉 抄). Đòng chữ xác nhận tác giả của cuốn gia phả là của ông Nhữ Thượng Chân và là người viết tựa vào năm Cảnh Hưng thử 6 (1745) (京 興  六 年 歲 次 乙 丑 仲 冬 毂 旦、賜 丙 辰 科 第 三 曱 進 士 出 身 特 進 金 紫 榮 祿 大 夫 入 使 陪 從 刑 部 左 使 郎 播 澤 侯  汝 尚 真 拜 序).
     Làng Hoạch Trạch xưa nối tiếng là mảnh đất có nhiều người đỗ đạt Cao. Theo tư liệu lịch sử thì làng Hoạch Trạch đóng góp 7 vị đại khoa, trong đó dòng học Nhữ chiếm đa số, đó là: Nhữ Văn Lan[2], Nhữ Tiến Dụng, Nhữ Đình Hiền, Nhữ Đình Toàn, Nhữ Công Chân, Nhữ Trọng Đài.
     Tuy nhiên trong văn bản ''Hoạch Trạch Nhữ tộc phả, ghi chép 11 đời của dòng họ chỉ đề cập đến thân thế sự nghiệp của bốn vị Tiến sĩ là: Nhữ Văn Lan, Nhữ Tiến Dụng, Nhữ Đình Hiền và Nhữ Công Toản.
     Qua khảo sát sơ bộ về văn bản này, chúng tôi có một sô nhận định sau: Văn bản ghi chép bằng chữ Hán, có một số chữ Nôm, chữ chân phương dễ đọc. Văn bản gồm 22 tờ, chữ viết đều trên hai mặt giấy thành 63 trang, mỗi trang 9 dòng, trung bình mỗi dòng 19 chữ (dòng ít nhất 3 chữ). Văn bản viết liền không có dấu chấm câu. Nội dung ghi chép về 11 đời của dòng họ Nhữ, từ ông thủy tổ Nhữ Công Minh đến Nhữ Công Hoán. Trong đó đặc biệt ghi về thân thế sự nghiệp của bốn nhà khoa bảng của dòng họ khá chi tiết và thú vị: Nhữ Văn Lan, Nhữ Tiến Dụng, Nhữ Đình Hiền và Nhữ Đình Toản; Ngoài ra là một số bài thơ, văn tế của dòng họ...
     Dưới đâỵ chúng tôi xin trích đưa một số thông tin từ trong cuốn gia phả này về bốn vị khoa bảng nói trên, mong muốn gổp thêm một số thông tin về họ:

     1. Tiến sĩ Nhữ Văn Lan: Theo dòng họ truyền lại thì gốc rễ dòng tộc họ Nhữ ở xã An Tử Hạ, huyện Tiên Lãng. Khởi tổ ông Nhữ Văn Lan đỗ Tiến sĩ khoa Ất Sửu đời Lê Quang Thuận 4, làm quan Hộ bộ Thượng thư, sau được gia phong là Phúc thần. Ông tính tình cương trực, học rộng. Sau (con) ông di cư về xã Lôi Dương.
     2. Tiến sĩ Nhữ Tiến Dụng: Ông tên hiệu là Giới Hiên, tên húy là Lộng, tự là Tiến Dụng, ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Giáp Thìn thời Lê Cảnh Hưng. Trải các chức quan: Lễ khoa Cấp sự trung,phong tặng Hoằng tín đại phu,Thái thượng Thị khanh, gia tặng Gia hạnh đại phu Công bộ Hữu Thị lang, sau lại gia phong thêm Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu, Ngự sử đài, Đô ngự sử, tước Liên Khê bá. Sau gia tăng chức Công bộ Thượng thư, tước Liên Khê hầu. Ông sinh ngày 22 tháng 9 năm Quý Hợi, mất ngày 20 tháng 6 năm Kỷ Tỵ, thọ 67 tuổi.
     Ông từ nhỏ song thân đã sớm qua đời, được bà ngoại họ Vũ là Từ Tại đón về nuôi. Khi lớn lên, ông được đi học tại xã Mộ Trạch ngay tại huyện, đầu tiên ông theo học thầy họ Phạm là Giám sinh ở xã Bình Dã, sau theo học quan Thái sư ở xã Mộ Trạch. Tương truyền khi ông đi học, trời tối đi qua xứ Đông, thường có thần linh cầm đuốc, mang rượu tiễn về tận nhà, ông lấy làm dị thường và biết rằng có quỷ thần giúp đỡ, nên gắng học đến cùng... Năm 19 tuổi (Nhâm Ngọ), ông thi Hương đỗ Tứ trường. Năm Giáp Ngọ nhận chức Huấn đạo phủ Nghĩa Hưng. Năm Tân Sửu dự xuân thí đỗ Tam trường. Năm Quý Mão thụ chức Học chính trong Quốc Tử Giám. Năm 42 tuổi, dự thi khoa Giáp Thìn đỗ Tứ trường, vào thi Đình đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân. Triều đình ứng vụ phong Thụ đạo Giám sát ngự sử Kinh Bắc. Năm Ất Tỵ thăng Giám sát ngự sử đạo Sơn Nam, cũng năm đó vì lòi gian ngôn mà ông bị chiếu chỉ giáng xuống Văn quán tư huân. Năm Bính Ngọ ông phụng mệnh làm Giám đốc Bằng liệt Sơn Nam. Năm Kỷ Dậu, ông được thăng Giám sát ngự sử đạo Kinh Bắc. Năm Nhâm Tý theo Thánh giá đi dẹp giặc ở Ô Châu, phụng chiếu theo bồi tòng ở chốn quân tướng. Năm Giáp Dần ông được thăng lên Hàn lâm viện, đến năm Quý Hợi thăng Hộ khoa Cấp sự trung. Năm Bính Dần thăng Lễ khoa cấp sự trung. Từ đó con cháu đều ở xã Hoạch Trạch, ông tình tình nhân hậu, từ lúc đăng khoa đến lúc ra làm quan là 10 năm phục vụ triều đình. Sau ông được phong Thái phó[3], được lập phủ đệ mới.
     3. Tiến sĩ Nhữ Đình Hiền: Tên thụy là Ôn Khiêm, ông lại được ban thụy là Thông Tuấn, húy là Hiền. Ông đỗ Tiến sĩ khoa thi Canh Thân thời Lê Vĩnh Trị, được phong Quang lộc đại phu Bồi tụng, Công bộ Hữu thị lang. Sau thăng Ngự sử đài Phó Đô Ngự sử, lịch thăng Hình bộ Thượng thư, tước Thọ Nhạc tử. Sau vì có công dạy con đăng khoa nên ông đươc vinh tặng Lễ bộ Thượng thư,Thái phó, tước Nhạc Ọuận công. Ông sinh ngày 4 tháng 12 năm Ất Hợi, mất ngày 26 tháng 5 năm Bính Tuất.
     Thuở nhỏ ông theo học tướng công họ Hoàng, là Thượng thư ở xã Thổ Hoàng, Thiên Thị; sau ông lại theo học tướng công họ Nguyễn ở xã Nguyệt Áng, Thanh Trì. Khoa thi Hương năm Ất Mão, ông đỗ Tứ trường; thi Hội năm Canh Thân ông cũng đỗ Tứ trường, vào thi Đình đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, ứng chế trúng Đệ nhất, được tiến triều nhận chức vụ Hàn lâm thử giáo thảo. Năm Giáp Tý ông được thăng Hình khoa Cấp sự trung. Năm Kỷ Tỵ chịu tang cha. Năm Tân Mùi ông được thăng Binh khoa cấp sự trung kiêm Trị Binh phiên. Năm Nhâm Thân ông phụng mệnh xứ Kinh Bắc, thăng Tham chính Sơn Nam. Năm Đinh Sửu phụng chỉ đi sứ phương Bắc. Năm Mậu Dân ông được thăng Công bộ Hữu thị lang, tước Nam, Bồi tụng Hành phúc Đô Ngự sử. Năm Bính Tuất ông chịu tang mẹ. Năm Đinh Hợi triều đình lấy việc khám tụng chưa minh bạch giáng ông xuống làm Hộ bộ Hữu Thị lang. Năm Ất Sửu thăng Hình bộ Tả Thị lang, tước Tử. Đến năm Nhâm Thìn lại thăng Lễ bộ Tả Thị lang. Năm Giáp Ngọ thăng Công bộ Thượng thư. Năm Bính Thân, Vĩnh Hựu thứ 12, thăng Hình bộ Thượng thư, tước Tử. Tháng 5 năm đó, nhân lễ mừng thọ ông được tặng chức Lễ bộ Thượng thư, tước Thọ Nhạc bá, gia tặng Thiếu bảo, tước hầu. Năm Cảnh Hưng thứ 6 lại được tặng Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu, Lễ bộ Thượng thư, Thiếu bảo, tước như cũ. Năm Cảnh Hưng thứ 22, tức năm Tân Tỵ gia phong chức Thái phó, tước Thọ quận công. Ông tính tình nhân đức, chính trực.
     Trong dòng họ còn lưu truyền một câu trayện khá thú vị vê ông khi ông còn đương chức làm việc trong Bộ Hình, ông có thụ một nghi án đặc biệt. Trong án đó, có người em gái vì chị bị bệnh mà đến chăm sóc. Nhưng nhà hai chị em cách nhau rất xa. Người em gái lên đường đi thăm chị, đi mãi mà không thấy về, chồng cô ở nhà nghi rằng vợ mình đã bị chồng của chị làm hại vì thế đi báo quan. Chồng người chị bị bắt giam tống ngục đợi xét xử, nhưng án nhiều lần xét đi xét lại, qua 6, 7 năm mà vẫn không điều tra được. Khi vụ án được chuyển đến ông, ông đi quan sát khu vực quanh nhà hai chị em và phát hiện thấy nơi hoang dã này có một ngôi chùa cây cối rậm rạp, âm u, mà người phụ nữ xấu số ắt phải đi qua. Ông đoán người phụ nữ đáng thương ấy đã bị những người trong chùa này làm hại. Bởi vậy, ông đến ngôi chùa bầy tỏ muốn tham thiền qua một đêm. Hôm sau, ông gọi những người trong chùa đến và giả nói rằng đêm qua mơ thấy có người đến báo mộng, ông hỏi: "Các ngươi là những kẻ tu hành mà sao lại có oan hồn đến tổ giác với ta, đó là người mà 7 năm trước đã bị các ngươi làm hại, sự việc thề nào phải mau kê lại tường tận?”. Những tên sư trong chùa nghe vậy, mắt mày thất sắc, vội đầu thú, rồi chỉ ra một tòa tháp, khi đào dưới chân tháp thì lộ ra thi hài của người xấu số. Thế là qua nhiều lần xét xử bị gián đoạn, nhờ có ông mà người bị oan đã được giải oan. Từ đấy dân gian còn truyền câu ca ngợi: ''Văn chương Lê Anh Tuấn[4], chính sự Nhữ Đình Hiền”. Ông cũng là người khai cung ở thôn Thị, xã Đình Tổ, hiệu là Thái Lạc cung.

     4. Nhữ Đình Toản (Nhữ Huy Toản): tên tự là Thượng Cẩn (Chân), được ban thụy là Khiêm Cẩn,tên húy là Huy Toản. Ông đỗ Tiến sĩ khoa Bính Thìn năm Vĩnh Hựu, triều Lê, được phong Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu Ngự sử đài, hành Binh bộ Thượng thư kiêm Quốc Tử Giám Tế tửu, tri Hàn lâm viện sự, sau lại nhậm chức Đặc tiến phụ quốc, Thượng Tướng quân, Đô đốc phủ, Tả Đô đốc Quyền phủ sự đồng Dự chính vụ, sau phong Quốc lão, gia phong Thái bảo, phong Ấp trung, ông sinh giờ Hợi, ngày 6 tháng 4 năm Quý Mùi, Chính Hòa, mất ngày 16 tháng 2 năm Quý Tỵ, thọ 71 tuổi.       .
     Theo gia phả ghi chép, từ 5 tuổi ông đã thích bút nghiên, theo cha đọc sách, 7 tuổi biết làm thơ, 14 tuổi cha mất, 17 tuổi thụ nghiệp ôm hoài bão Trạng nguyên, 18 tuổi đi thi làm văn mắc lỗi, 21 tuổi học thầy ở xã Thổ Hoàng, 24 tuổi xin triều đình tha tội để được đi thi nhưng không được. Năm Kỷ Dậu, 27 tuổi, được nhạc phụ khải xin, vua mới ứng chuẩn kịp đi thi, ông thi Hương trúng bốn trường, đứng thứ hai. Khoa thi Hội năm Tân Hợi ông không đi thi được vì mắc bệnh. Năm Nhâm Tý, Vĩnh Khánh thứ 4, ông 30 tuổi nhậm chức Dư thượng bảo Tự thừa. Năm 31 tuổi dự thi Hội trúng Tam trường... Đến khoa thi Hội năm Vĩnh Hựu, ông đỗ Hội nguyên khi đó đã 34 tuổi, cũng năm đó chịu tang mẹ. Năm 36 tuổi ông được tiến triều thụ chức Sử khoa Cấp sự trung. Năm Kỷ Mùi, 37 tuổi phụng sai xứ Kinh Sơn,Đốc Đồng… Năm Tân Đậu, giắc cướp nổi lên ở Đưòng Hào, ông dụ giặc hàng. Năm Nhâm Tuất, khi đó ông 40 tuổi vì dụ được giặc hàng nên được thăng Cẩn sự lang đạo Kinh Băc, Giám sát Ngự sử. Năm Quý Hợi, 41 tuổi, thăng Hoằng tín Đại phu Nhập thị nội Bồi tụng Quang lộc Tự khanh. Ngày 5 tháng 2 năm Ất Sửu (43 tuổi) vì có tài làm chính sự, với tấm lòng trung hiếu, cần mẫn nên ông được thăng Hành đại phu, Tham tụng, Công bộ Hữu thị lang Tư chính khanh. Ngày 24 tháng 10, ông được thăng Đặc tiến Kim tử vinh lộc đại phu, Tham tụng, Công bộ Hữu thị lang, hành Binh bộ Tả Thị lang, tước Phan Đình hầu. Năm Ất Hợi, 55 tuổi, thăng Hình bộ Tả Thị lang hành Binh bộ Tả Thị lang, kiêm Quốc Tử Giám Tế tửu, tri Hàn lâm viện sự, tước như cũ. Năm 56 tuổi, Mậu Dần, gia phong Binh bộ Thượng thư. Năm Kỷ Mão, 57 tuổi, vì là con cháu trong phủ đệ, phong tước Trung phái hầu. Năm Đinh Hợi (66 tuổi) ông làm Thống đốc đồng tri, lại được ân huệ ban Đô đốc Thần võ Tứ vệ Quân vũ. Năm Mậu Tý, 67 tuổi, thăng Đô Đốc Phủ tả Đô đốc, tước như cũ, ban Quốc lão, gia phong Thái bảo, tước Trung Ấp công. Năm Nhâm Thìn 70 tuổi, con trai thứ 4 đỗ Hoàng Giáp. Năm Quý Tỵ, ông mất thọ 71 tuổi. Ngày 25 tháng 5 năm Nhâm Dần, Cảnh Hưng thứ 43 ông được phong Đặc tiến phụ quốc, Thượng tướng quân, Thái phó trung trụ quốc thượng vì ông có công dạy con đỗ đạt (giáo tử đăng khoa). Ông bản tính thanh bạch, nhân hậu.
     5. Nhữ Công Chân: Là con trai thứ tư của Tiến sĩ Nhữ Đình Toản (Nhữ Thượng Chân). Tuy nhiên trong cuốn gia phả này, chỉ duy nhất có hai dòng chữ nhắc tới ông một cách giản tiếp, đó là: Trong phần nói về cha ông vào năm 70 tuổi: 壬辰年七十歲第四子試中黃甲/nãm Nhâm Thìn, 70 tuổi, con trai thử 4 đỗ Hoàng Giáp; trong phần ghi về các con của ông Nhữ Đình Toản:第四男黃甲公諱成填/con trai thứ 4 đỗ Hoàng giáp, tên húy là Thành Chân. Theo tư liệu lịch sử ông Nhữ Công Chân đỗ Hoàng giáp năm Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng thứ 33 (1772) đời Lê Hiển Tông[5]
     Trên đây là những thông tin khá chi tiêt vê thân thê, sự nghiệp của năm nhà khoa bảng trong dòng họ Nhữ mà tác phẩm đã đề cập, mặc dù nội dung của cuốn gia phả cũng nói về gia đình, vợ con của các vị Tiến sĩ này, nhưng vì thời lượng của bài viết chúng tôi cũng xin được lược bớt.

KẾT LUẬN
Qua khảo sát, nghiên cứu trong phạm vi của văn bản Hoạch Trạch Nhữ tộc phả mang ký hiệu A.677 đang lưu trữ tại Thư viện Hán Nôm Viện nghiên cứu Hán Nôm và cũng chỉ trong thời lượng của bài viêt nhỏ này, chúng tôi có một sô kêt luận sau:
     1. Cũng giống như bố cục của các cuốn gia phả khác, cuôn ''Hoạch Trạch Nhữ tộc phả cũng được sắp xếp theo niên đại, theo các thế hệ dòng chính (dòng trươngr). Ở mỗi thế hệ, thứ tự ghi chép bao giờ cũng là chồng, vợ, các thê thiêp sinh được bao nhiêu người con, các con, con trai ghi trước (đứng đầu là con trường), con gái ghi sau (đứng đầu là con gái trưởng)... Trong đó ghi rõ ngày sinh, ngày mất, vị trí mộ chủ yếu của chồng, vợ và các thê. Những mục này đều ghi rât chi tiết, rõ ràng của từng người (thậm chí các con gái được gả cho ai cũng ghi rất chi tiết...).
     2. Với cách ghi biên tập như vậy, nên cuốn phả chủ yếu ghi truyền đời hệ phả theo chi trưởng, qua khảo sát chúng tôi không thấy nội dung tỉ mỉ nào ghi lại hành trạng, sự nghiệp của Tiến sĩ Nhữ Công Chân. Phải chăng vì là con thứ 4 (không phải con trưởng) nên không ghi chép trong hệ phả này hay là sao chép bị thiếu hụt? - đây là điều nghi vấn cần được nghiên cứu thêm.
     3. Văn bản này tuy cần có sự nghiên cứu sâu rộng và đối chiểu với các tư liệu liên quan nhiều hơn nữa, nhưng chúng tôi vẫn cho rằng đây là một nguồn tư liệu bằng chữ Hán có giá trị, đóng góp vào việc nghiên cứu lịch sử khoa cử Việt Nam, hành trạng các nhà khoa bảng Việt Nam nói chung và của dòng họ Nhữ nói riêng./.
 
 

[1] Cán bộ Trung tâm HĐVHKH Văn Miếu - Quốc Tử Giám
[2] Nhữ Văn Lan không phải là nhà khoa bảng làng Hoạch Trạch. Cụ là cụ Tổ dòng họ Nhữ làng Hoạch Trạch, quê An Tử hạ, xã Kiến Thiết, tiên Lãng, Hải Phòng (chú thích của cổng thông tin điện tử họ nhữ Việt Nam)
[3] Phong Thái Phó: Thông tin này không chính xác. Người được phong Thái Phó là TS Nhữ Đình Hiền (chú trích cải chính này là của cổng thông tin điện tử họ nhữ Việt Nam honhuvietnam.com).
[4] Lê Anh Tuấn – Người xã Thanh Mai, huyện Tiên Phong, nay là thôn Mai Trai, xã Vạn Thắng, huyện Bà Vì, Hà Nội. Ông đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa thi Giáp Tuất, niên hiệu Chính Hòa 15 (1694) đời Lê Hy Tông, là người nổi tiếng về văn học đương thời. (xem các nhà khoa bảng Việt Nam 1075-1919, Nxb Văn học 1993, Ngô Đức Thọ chủ biên, trang 627.
[5] Theo cuốn “Các nahf khoa bảng Việt Nam” do Ngô Đức Thọ chủ biên, Nxb Văn học, 1993. Tr. 732

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

GIới thiệu

Bài 3: LỜI CẢM ƠN

    LỜI CẢM ƠN   Để đáp ứng cho các  hoạt động của Hội đồng dòng họ Nhữ Việt Nam như: - Thăm viếng “vấn Tổ, tìm Tông”, giao lưu  giữa Hội đồng dòng họ Nhữ Việt Nam với các địa phương, tìm hiểu truyền thống, cội nguồn để viết bài giới thiệu về họ Nhữ các nơi; - Duy...

Đăng Nhập

Bài viết mới nhất

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HỌ NHỮ VIỆT NAM
www.honhuvietnam.com      E-mail: honhuvietnam@gmail.com

Hotline:                                Fax : +84 4 3 863 1091