16:13 EDT Thứ sáu, 20/09/2019

Danh mục bài viết

Gủi bài viết

Các bài viết

Trang nhất » Bài viết » Lịch sử, danh nhân...

HOẠCH TRẠCH - LÀNG QUÊ VĂN HIẾN, QUÊ HƯƠNG CỦA TẾ TỬU QUỐC TỬ GIÁM NHỮ ĐÌNH TOẢN

Thứ ba - 03/09/2019 07:06

Ông Tăng Bá Hoành - Chủ tịch Hội sử học Hải Dương - Trình bày tham luận tại hội thảo khoa học Tế tửu Quốc Tử Giám Nhữ Đình Toản - con người và sự nghiệp
Tăng Bá Hoành
(Chủ tịch Hội sử học Hải Dương)
Lời BT: Bài khảo cứu này của ông Tăng Bá Hoành trình bày tại hội thảo khoa học "Tế tửu Quốc Tử Giám Nhữ Đình Toản - con người và sự nghiệp" do Trung tâm văn hóa khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội tổ chức tổ chức ngày 20/12/2013. Chúng tôi biên tập, đăng trên cổng thông tin điện tử dòng họ làm tư liệu tham khảo cho các bạn đọc
 
     Làng Hoạch Trạch (穫 澤) nôm gọi là làng Vạc, tên ấy được ghi trên bia chùa Thánh Thọ từ năm Diên Thành thứ 2 (1579), nhưng xem trên các minh văn khác, cho biết, tên làng quê ấy đã có từ thời Lý - Trần.
     Về địa danh: Hoạch Trạch thời Lê -Mạc là một xã, thuộc tổng Đường An, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng. Cuối thế kỷ XIX, thuộc tổng Bình An, huyện Năng An, phủ Bình Giang, Phủ Bình Giang, kiêm nhiếp huyện Năng An, quen gọi là phủ Bình, trị sở ở phía Tây bắc làng Hoạch Trạch, vì thế mà còn có tên là phủ Vạc. Thời kỳ Pháp xâm lược, chuyển trị sở phủ, huyện về Kẻ Sặt, phủ Vạc gọi là phủ Cũ. Năm 1898, khi bỏ cấp phủ, huyện Năng An lấy tên là Bình Giang. Sau Cách mạng tháng Tám (1946), thực hiện liên xã, Hoạch Trạch trở thành một thôn của xã Thái Học gồm 5 thôn: Ninh Bình (Phủ Bình), Phú Khê, Lỗi Dương (Sồi Cầu), Thị Thôn (Sôi Tó), Hoạch Trạch (Vạc). Dân số năm 1900 có trên 900 khẩu. Năm 1983: trên 3.000 khẩu, nay đã là trên 4.000 khẩu. Như vậy, trong vòng một thế kỷ, dân số của làng tăng trên 4 lần. Đây chưa kể những gia đình ly hương.
     Hoạch Trạch ở giữa một vùng quê trù phú và văn hiến, nơi có nhiều nghề nổi tiếng. Thời Lê đã cầu về:
“Tiền làng Đọc, thóc làng Nhữ, chữ làng Chằm”
     Đọc tức làng Đan Loan, làng có nghề nhuộm cao cấp cho triều đình và kinh thành Thăng Long, Trần Đạm Trai ở thế kỷ XIX đã viết:
“Hồng hồng, biếc biếc, xanh xanh,
Đoan Loan, Ngọc Cục, thị thành vẻ vang”.
     Do có nghề nhuộm cao cấp, được triều đình trọng dụng mà Đan Loan giàu có. Cũng trên cơ sở của nền kinh tế đó mà Đan Loan có nhiều nhân vật nổi tiếng như Vũ Thạnh, Phạm Đình Hổ.
     Làng Nhữ tức làng Nhữ Thị, làng có nổi tiếng nhiều ruộng, lắm thóc nhất vùng.
     Làng Chàm tức làng Mộ Trạch, làng mệnh danh là làng Tiến sĩ, trong triều đại phong kiến, làng có tới 39 Tiến sĩ với hàng nghìn Cử nhân, hàng trăm quan lại cao cấp để trong triều đình, hầu như bộ nào, viện nào cũng có người làng Mô Trạch.
     Hoạch Trạch lấy nghề nông làm căn bản, nhưng thương nghiệp và thủ công nghiệp rất phát triển, do có điều kiện thuận lợi của trị sở huyện Đường An nhiều thế kỷ đóng tại làng Làng có nghề làm lược tre từ thế kỷ XVII, đây là một nghệ độc quyền của làng suốt 4 thế kỷ qua. Nghề cổ truyền ở đây không do đất chật người đông mà là một nghệ đáp ứng yêu cầu thiết yếu của những thế kỷ trước do ông bà Tiến sĩ Nhữ Đình Hiên khởi dựng. Chúng ta biết rằng, trước đây, bệnh chấy rận phổ biến và nguy hiệm như thế nào. Để trị bệnh dịch này thì được tre tỏ ra hiệu quả hơn cả. Vào thời kỳ thịnh đạt, làng có tới 95% số hộ tham gia sản xuất với sản lượng hàng chục triệu lược mỗi năm, được tiêu thụ khắp đất nước và xuất sang các nước Đông Nam Á. Ngày nay, lược công nghiệp đã thay dần cho lược thủ công, song Lược tre Hoạch Trạch đã thông trị thị trường suốt 4 thế kỷ, góp phần không nhỏ vào đời sống xã hội, đương nhiên nó đã ghi dấu ấn không thể phai mờ trong lịch sử nghề cổ truyền Việt Nam.
     Về học vấn, Hoạch Trạch đứng vào hàng thứ tư của Đường An, sau Mộ Trạch, Hoa Đường, Ngọc Cục. Nếu Mộ Trạch người đỗ đại khoa phần lớn thuộc dòng họ Vũ thì ở Hoạch Trạch hầu hết lại thuộc họ Nhữ. Những vị đại khoa này đều có công với quê hương, đất nước, được nhà nước phong kiến cũng như nay trong thị. Chúng ta xem bảng thống kê sẽ rõ.
     Vũ Tụ (1472 - ?): 28 tuổi đỗ Hoàng giáp khoa Quý Sửu, niên hiệu Hồng Đức thứ 24 (1493). Làm quan đến chức Tả thị lang bộ Hình.
     Trần Vĩ (1564 - ?): 41 tuổi đỗ đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Giáp Thìn, niên hiệu Hoằng Định thứ 5 (1604). Làm quan tới chức Tả thị lang bộ Lại, kiêm Đông các Đại học sĩ, từng đi sứ Minh. Khi mất được truy tặng chức Thượng thư, hàm Thiếu bào.
     Những vị đại khoa họ Nhữ
     Thuỷ tổ họ Nhữ Hoạch Trạch là Tiến sĩ(1) Nhữ Văn Lan, đỗ khoa Quý Mùi, niên hiệu Quang Thuận thứ 4 (1463), quê tại xã An Từ Hạ, huyện Tiên Minh, Thừa tuyên Hải Dương, nay thuộc xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng. Làm quan đến chức Hộ bộ Thượng thư, sau khi qua đời, được phong Phúc thần, gia tặng Cương chính bác đạt Đại vương. Nhữ Văn Lan là ông ngoại Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhà văn hóa lớn ở thế kỷ XVI. Đời thứ hai là Nhữ Huyền Minh di cư về thôn Đông, xã Lỗi Dương, huyện Đường An, nay thuộc xã Thái Học, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Đây là dòng họ hiên đạt, nổi đời đỗ Đại khoa, giữ nhiều trong trách triều Lê Trung hưng, Dòng họ còn có những phụ nữ nổi tiếng, tiêu biểu là Nhữ Thị Thục, thân mẫu Nguyễn Bỉnh Khiêm, nữ nhi xuất chúng, Nhữ Thị Nhuận, người có công với triều đình. Họ Nhữ Hoạch Trạch có 5 vị đại khoa, thể, thứ, chức, tước như sau:
     Nhữ Tiến Dụng, đời thứ 7, 42 tuổi, đổ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Giáp Thìn, niên hiệu Cảnh Trị thứ 2 (1664); làm quan đến chức Giám sát Ngự sử, Lễ khoa Đô Cấp sự trung, Hoằng tín đại phu, Thái thường Tự khanh, Đặc tiến Kim từ vinh lộc Đại phu, Đô Ngự sử đài, tước Liên Khê hầu, thăng Công bố Thượng thư.
     Nhữ Đình Hiền, con trai thứ ba của Nhữ Tiên Dụng, 22 tuổi, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, niên hiệu Vĩnh Trị thứ 5, khoa Canh Thân (1680); có biệt tài về chỉnh sự, đương thời có câu:
“Văn chương Lê Anh Tuấn
Chính sự Nhữ Đình Hiền”
     Ông làm quan đến chức Hàn lâm hiệu thảo, Hình khoa Đô Cấp sự trung phụng Chánh Thanh sứ, thăng Bồi tụng Ngự sử đài. Lễ bố Ta thị lang, Đặc tiên Kim từ virth
lộc Đại phu, Nhập nội thị Tham tụng Hình bộ Thượng thư, tước Hầu. Ông là tô nghê làm lược tre làng Hoạch Trạch.
     Nhữ Trọng Đài (Thai), cháu nội Nhữ Tiến Dụng, 38 tuổi, trúng Đệ nhất giáp cập đệ, tức Đình nguyên, Bảng nhãn, niên hiệu Long Đức thứ 2 (1733) khoa Quý Sửu, khoa này không lấy Trạng nguyên. Làm quan đến Đông các Đại học sĩ, Hiên sát ty Thái Nguyên.
     Nhữ Đình Toản, con trai thứ ba của Nhữ Đình Hiền, 34 tuổi, đô Hội nguyên, thi Đình đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Binh Thìn, niên hiệu Vĩnh Hựu thứ 2 (1736); văn võ song toàn; làm quan đến chức Giám sát Ngự sử, Tham tụng, Binh bộ Thượng thư, Đặc tiến Kim tử vinh lộc Đại phu, Nhập nội thị, Tri Hàn lâm viện sự, kiêm Tê tửu Quốc Tử Giám, chủ khảo thi Hội khoa Giáp Tuất (1754), Ngự sử đài, gia tặng Phụ quốc Thượng tướng quân, Đô đốc phủ Tả đô đốc, quyền phủ sự, đồng dự chính vụ, Thái bảo, Trung quận công... chí sĩ, đặc ban Quốc lão, Thái tế, Trung quốc công, trứ tác Gia phả bản tộc.
     Nhữ Công Chân, con Nhữ Đình Toản, 22 tuổi, đỗ Hoàng giáp, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 33 (1772) khoa Nhâm Thìn, làm quan đến chức Hàn lâm thị chế, Thi công
phiên, thự Lễ bộ Hữu thị lang.
     Hiện nhà thờ còn lưu giữ 31 đạo sắc và 6 bản sao, tổng cộng 37 đạo của triều Lê Trung hưng và triều Nguyễn Quang Trung, ban cho các vị Đại khoa và những thân nhân của dòng họ và cuốn gia phả do Nhữ Đình Toản biên soạn, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 6(2) (1745). Trải qua bao cuộc chiến tranh và biến cố xã hội, Từ đường họ Nhữ Hoạch Trạch vẫn được bảo toàn cùng hàng trăm di vật có giá trị, vì vậy năm 1993, được Nhà nước xếp hạng Di tích lịch sử Quốc gia.
     Trên đây chỉ ghi những vị Đại khoa, còn Cử nhân, Tủ tài Nho học có số lượng hàng trăm.
     Những nhân vật nổi tiếng: Hoạch Trạch có nhiều nhân vật nổi tiếng, trong đó có vị Đại khoa nói trên. Tại tham luận này, chúng tôi chỉ nói đến hai phụ nữ nổi tiếng.
1. Cung nữ Điểm Bích
     Nguyễn Thị Điểm Bich sinh vào cuối thế kỷ XIII. Bà mẹ là người phụ nữ nhan
sắc, của chồng khi còn trẻ. Bà đi chùa Quỷnh Lâm lễ Phật, vì nhà xa, đêm phải ngủ lại chốn thiền môn. Đêm ấy, có người đàn ông đến gian díu, sau đó bà có thai, sinh con gái, dân gian gọi là em bé Quỳnh Lâm. Em gái lớn lên ngày càng xinh đẹp, lại thông mình, ham học hỏi khác thường. 9 tuổi đã được tuyển làm cung nữ, vua khen là nữ thân đồng, Chu lưu, Tam giáo, không sách nào là không thông, đặc biệt là có tài thơ Nôm. Người ấy là Điểm Bích.
     Thời Trần Anh Tông (1293 - 1314), Điểm Bích là người được chọn đi thử sự chân tu của lão sư Huyền Quang, nàng đã lừa được thầy chùa, lấy được vàng về làm chứng. Truyện phát giác, Điểm Bích bị trị tội, giáng xuống làm người quét chùa Cảnh Linh trong nội điện (xem tiểu sử Huyền Quang). Gia phả họ Nguyễn Điểm Bích Vân ghi bà là một cung tần triều Trần, có lẽ sau vụ án Huyền Quang, bà được phục hồi.
     Sinh thời, Phạm Đình Hổ (1768 - 1839), từng đến thăm mộ Điểm Bích, Hoàng giáp Nhữ Công Chân còn có thơ: Giai nhân lạc địa uỷ kim điều (Giai nhân đày đọa rụng bông vàng), trong đó có câu:
“Tằng hướng tiêu phòng hoa yểu điệu,
Khước lai sơn tự bạn không thiền”
Nghĩa là:
“Phòng mỹ nữ thuở trước từng khoe đẹp
Chùa núi sau này tựa cảnh không

     Công Chân định khắc bài thơ lên bia đặt trước mộ, sau lại thôi.
     Vào đời Cảnh Hưng, có kẻ gian đào mộ Điểm Bích, thấy quan tài vẫn còn sơn son y nguyên, nước trong một trong veo, hương thơm ngào ngạt, chúng đậy lại ngay.
2. Nữ lưu hào kiệt Nhữ Thị Nhuận
     Nhữ Thị Nhuận, hiệu là Diệu Huệ, sinh khoảng đầu thế kỷ XVIII. Bà là con gái thứ hai của Chiêm sứ đốc dung công Nhữ Tiến Duyệt, cháu gái Thượng thư Giới Hiên công Nhữ Tiến Dụng.
     Ông Duyệt có hai con gái. Con gái lớn lấy Tham nghị Sơn Nam, con gái nhỏ là Nhữ Thị Nhuận, lấy Hương công Vũ Phương Đầu, người làng Mộ Trạch, làm Thông chánh sứ, Chiêm tri lại phiên.
     Gia đình bà Nhuận giàu có, lại có uy tín với triều đình đương thời, Chúa Trịnh sai bà đi mua quế, lĩnh quỹ công một vạn quan. Vào miền rừng núi Thanh Hóa, gặp năm mất mùa, nhân dân đói khổ, bà đem tiền mua quể phát chân cho dân, chỉ hơn một năm, tiến hết sạch mà quê không mua được. Bà về quê, thu thập vốn liếng được hơn một vạn quan, trở lại rừng Thanh Hóa 2 năm hến, tiên cứu gúp dân nghèo gần hết mà quê vẫn chưa mua được. Bà rất buồn, nghĩ rằng thà chết ở rừng chứ không về nữa. Tình cờ một lần bà đi thuyền qua con ngòi, vào dịp tháng chín, nước trong vắt, nhìn đáy ngòi có một cành cây. Sai người mò lên thì là một cảnh quế, Bà nhìn lên ven đỏ tương xứ Bầu Non có một cây quế to. Bà hỏi mua, sai người đó rồi định giá. Chủ đòi bao nhiêu cũng trả đủ, nhờ đó mà không thiếu quỹ công.
     Năm sau lại mất mùa, dân nơi bà mua quế nổi lên chống lại chính quyền địa phương như ông Triều đình đẹp mãi không yên, bà làm đơn xin đi dụ giặc. Triều đình cho bà là phụ nữ không làm nổi việc bịnh nhung. Bà lại làm đơn lần thứ hai, trong đơn có câu: “Thiếp có chồng và lại con gái, nếu không bình được giặc xin chịu quân trạng”. Anh con bác của bà là Quốc lão Nhữ Đình Toản đệ đơn của bà thỉnh mệnh Chúa, Chúa dụ: “Người đàn bà này hắn có chước lạ, quả lập được công thì có trọng thưởng. Hãy truyền cho người đàn bà ấy biết, nếu không có quyền bình trong tay thì sao làm nên việc lớn được. Nay ta ban cho một thanh phương kiệt, một lá cờ huyết mao, từ quan trọng thần trở xuống phải chịu lệnh sai dùng của bà”. Chúa cho xe loan về Mộ Trạch đón, bà đến kinh đô, chủa hỏi: “Phu nhân thân gái, làm việc quản ra sao?”. Bà liền khải: “Thiếp chỉ xin 500 người ngựa, có đủ lương thực, cờ tướng một lá to, để tướng hiệu: “Nhữ Thị Nhuận”. Chúa chuẩn y, bà dẫn quân lên đường.
     Quần bà đi đến rừng Ngang, đi đầu có lá cờ thêu 3 chữ lớn: “Nhữ Thị Nhuận”. Quân nổi loạn thấy cờ liền kêu lên: “Mẹ ta, mẹ ta thương xót ta, chính là người này”. Nhân dân địa phương kéo ra chào mừng Bà mở tiệc chiêu đãi ba ngày, không nói gì đến binh đao, cuối cùng bà chỉ nói: “Mẹ đến đây vâng mệnh Chúa, chiếu thảo chủ các người, các ngươi nên quy thuận triều đình. Mẹ thành công, chủ các ngươi không mất chức tù trưởng, lại tránh được lầm than cho nhân dân”. Dân về nói với tù trưởng, họ tin bà, tất cả bỏ giáo xin hàng. Thế là một cõi bình yên.
     Năm sau, quốc mẫu nhà Thanh đau mắt, nước ta dâng quế của bà Nhuận mua từ xứ Thanh. Quốc mẫu dùng quê ấy liền khỏi, Hoàng đế Đại Thanh lập tức lệnh cho Hiến sát sứ lưỡng Quảng, hiệp cùng với sứ thần ta, phong cho bà danh hiệu Lưỡng quốc quế hộ, Thượng quận phu nhân, nhân đấy, Chúa tâu vua phong cho cha bà là Đốc dụng công chức hiện cung đại phu, giữ chức Chiêm sự viện; lại phong cho thân mẫu là Lê thị tước Cẩn phu nhân, phong cho chồng chức Hiền cung đại phu, Chiêm sự viện.
     Năm Đinh Sửu (1757), bà đứng ra hàng công làm lại định làng bị tàn phá trong khởi nghĩa Nguyễn Hữu Cầu, chi phí mất hơn 3.000 quan, nhiều người muốn tham gia công đức, bà không nhận, xin được chịu mọi chi phí. Khi làm xong, bà con công đức 200 quan tiền và 10 mẫu ruộng để chi hương hỏa, tê tự hàng năm. Ngôi đình do bà hưng công xây dựng hiện còn đến nay và đã được xếp hạng quốc gia. Tấm bia ghi công trạng của bà về việc tái tạo đinh Mộ Trạch do Vũ Phương Lan Soạn, khắc năm Cảnh Hưng thứ 35 (1774) hiện còn ở bên tả hậu cung đình.
     Bà là người chăm chỉ, khéo léo, đoan hậu, thông hiểu mọi việc, chống mất sớm, bà quán xuyển việc nhà, tận tình giúp đỡ thân bằng, không tính toán chi li; trong nhà có lúc có hàng trăm thực khách, bà lấy việc giao đại làm vui, nhớ tên từng ngời, không số đo tốn kém; sẵn lòng hưng công, làm phúc, coi nhẹ tiền tài, thích việc bố thí, có thể gọi là Nữ lưu hào kiệt. Bà có 2 con gái, một người lấy Tiến sĩ Vũ Miên, người làng Ngọc Quan, huyện Lương Tài, Bắc Ninh, một người lây Đại tướng Phạm Ngô Cầu.
    Trong thời kỳ hiện đại, Hoạch Trạch có 3 nhân vật nổi tiếng:
1. Học giả Nguyễn Văn Ngọc (1890-1942), người viết hàng nghìn trang khảo cứu về lịch sử-văn hóa-giáo dục, nếu thiếu vắng những công trình này là một sự hàng hụt về tri thức văn hóa đầu thế kỷ XX.
2. Nhạc sĩ Đỗ Nhuận (1922-1991), người viết nhiều các khúc và trường ca nội tieng thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược, điển hình là các tác pham Du kích sóng thao, Giải phỏng Điện Biên, Việt Nam quê hương tôi.
3. Bác Sĩ Nhữ Thế Bảo (1912-2006). Ông đỗ bác sĩ năm 1943, người sởm tham gia cách mạng, từ năm 1955, được giao trách nhiệm là người bảo vệ Bác Hồ cho đến khi qua đời (1969).
     Những công trình văn hóa của làng
     Từ đường họ Nhữ do Tiến sĩ, Công bố Thượng thư, Liên Khế hẩu, Giới hiên Công Như Tiến Dụng, hậu duệ đời thứ 7 khởi dựng năm Mậu Thìn, niên hiệu Canh Trì thứ 8 (1670) có tên là Từ Hiểu đường, 3 gian gỗ lim, lợp ngói, tại thôn Thị xã Đình Tổ, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, nay thuộc thôn Sồi Tó, xã Thái Học, huyện Bình Giang.
     Từ năm Vĩnh Trị thứ 5 (1680), đến năm Vĩnh Thịnh 12 (1716), Tiến sĩ, Đặc tiển Kim tử vinh lộc đại phu, Nhập nội thị Tham tụng, Hình bộ Thượng thư, Hầu tước, Ta thị thượng khanh Nguyễn Tiến Dũng tôn tạo, gọi là Thái Lạc đinh.
     Năm Cành Hưng thử 20 (1769), Tiến sĩ, Giám sát ngự sử, Thạm tụng, Binh bộ
Thượng thư, Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, Nhập nội thị, Tri Hàn lâm viện sự, kiểm Tế tửu quốc tử giám Nhữ Đình Toàn trùng tu.
     Năm Minh Mệnh thứ 11 (1830), hậu duệ đời thứ 11, làm Phiên ty Bắc Ninh là Nhũ Công Kỳ, xây dựng 5 gian tiền tế bằng gỗ lim, lợp ngói.
     Trong từ đường có tượng ông bà Nhữ Tiến Dụng. 31 sắc phong của triều Lê và Thiều CỔ vật có giá trị. Trong kháng chiến chống Pháp, đèn tẻ bị tàn phá, hậu cung hư hại đột phánnhung tượng và độ thờ Văn nguyên vẹn. Năm 1986, bán tộc tu sửa lâu cung làm lại tiền tệ, sân vườn và tường bao.
     Căn cứ giá trị của di tích và người được thờ, ngày 2 tháng 2 năm 1993, Nhà nước ra Quyết định 74 VH/QĐ xếp hạng cấp Quốc gia, tôn vinh Nhà Đinh Hiển là Ông tổ nghề lược bí lại bản thôn. Diện tích khoanh vùng bảo vệ 2206 m2. Năm 1996 Nhà nước cấp kinh phí cùng bản tộc công đức trùng tu, khánh thành ngày 16-2-1997.
     Trên đất Hoạch Trạch có văn chỉ hàng huyện công trình được xây dựng khá khang trang. Người có công tôn tạo văn chỉ không ai khác chính là Nhữ Công Toản, người mà chúng ta hôm nay hội thảo.
     Làng còn có chùa Thánh Thọ, có từ thời Lý,
     Nghè thờ Thành hoàng là Hướng Thiệp cư sĩ và Nguyệt Thai công chúa, cũng được khởi dựng từ thời Lý.
     Những công trình nói trên cùng với đình làng đã hư hại trong chiến tranh, nay đang được trùng tu, tôn tạo.
     Đặc biệt, làng có một chợ lớn, gọi là chợ Vạc hay chợ Phủ, giữ vai trò như chợ hàng huyện. Trong làng còn có chợ Lược, chuyện chỉ bán một loại sản phẩm là lược tre hay còn gọi là lược bí của làng và những nguyên liệu cho nghề làm lược, chợ chỉ họp vào sáng sớm, tương tự như nơi giao và nhận hàng. Gần đây, tại địa điểm này, xã đã cho xây Nhà lưu niệm làng nghề.
     Di sản đáng quan tâm nhất ở đây là Hán Nôm. Gần đây chúng tôi đã tiến hàng dịch toàn bộ di sản này phục vụ công tác nghiên cứu lịch sử tại địa phương. Dưới đây là tóm tắt di sản quan trọng này:


01Tên bia: 穆泽社碑記 Hoạch Trạch xã bi ký, Niên đại: 延成二年/1579 (Diên Thành nhị niên),  Số chữ: 60

02 Tên bia: 後神碑記 Hậu thần bị ký; Niên đại: 景興四十七年/1786 (Cảnh Hưng tứ thập thất niên), Số chữ: 357

03 Tên bia: 模泽亭碑記 Hoạch Trạch Đình bi ký, Niên đại: 嗣德庚申年/1880 (Tự Đức canh thân niên), Số chữ: 547

04 Tên bia: 穫澤社作祭亭壽萬代造碑記, Niên đại: 保泰五年/1724 (Bảo Thái ngũ niên), Số chữ: 700

05 Tên bia: 恭题碑記, Niêu đại: 成泰癸卯年/1903 (Thành Thái...), Số chữ: 250

06 Tên bia: 後神碑記, Niên đại: 年/? (không rõ), Số chữ: 293

07 Tên bia: 後神碑記, Niên đại: 景興四十七年/1776 (Cảnh Hưng tứ thập thất niên), Số chữ: 690

08 Tên bia: 重修先賢碑記, Niên đại: 阿德庚午年/1858 (Tự Đức canh ngọ niên), Số chữ: 714

09 Tên bia: 重修先賢祠武碑記, Niên đại: 景興三十三年/1772 (Cảnh Hưng tam thập tam niên), Số chữ: 800

10 Tên bia: 唐安文址碎, Niên đại: 年/1844, Số chữ: 1421

11 Tên bia: 祀田處恭進錢 , Niên đại: 嗣德十二年/1858 (Tự Đức thập nhị niên), Số chữ: 900

12 Tên bia: 本縣碑記 本縣祀田碑記, Niên đại: 成泰七年/1895 (Thành Thái thất niên), Số chữ: 812

13 Tên bia: 重修文址碑, Niên đại: 嗣
五年/1851 (Tự Đức ngũ niên), Số chữ: 1158

14 Tên bia: 本社寺后, Niên đại: 保大四年/1929 (Bảo Đại tứ niên), Số chữ: 365

15 Tên bia: 後佛碑記, Niên đại: 
景興三十二年/1771 (Cảnh Hưng tam thập nhị niên), Số chữ: 840

16 Tên bia: 本寺后位, Niên đại: 保大三年/1928 (Bảo Đại tam niên) 

17 Tên bia: 寺祀碑記, Niên đại: 成泰十一年/1899 (Thành Thái thập nhất niên), Số chữ: 340

18 Tên bia: 聖善寺碑記, Niên đại: 德隆六年/1634 (Đức Long lục niên), Số chữ: 540

19 Tên bia: 造聖壽祠-石衢階碑, Niên đại: 正和丁丑年/1697 (Chính Hòa đinh sửu niên) , Số chữ: 600

20 Tên bia: 寄忌碑記, Niên đại: 嗣德十九年/1865 (Tự Đức thập cửu niên), Số chữ: 350

21 Tên bia: 寄忌碑記, Niên đại: 嗣德十五年/1861 (Tự Đức thập ngũ niên), Số chữ: 600

22 Tên bia: 寄忌碑記, Niên đại: 明命十七年/1836 (Minh Mạng thập thất niên), Số chữ: 200

23 Tên bia: 祀後碑記, Niên đại: 成泰十五年/1903 (Thành Thái thập ngũ niên), Số chữ: 80

24 Tên bia: 後佛碑記, Niên đại: 1802, Số chữ: 385

25 Tên bia: 蓮械碑記,  保 
三年/1722 (Bảo Thái tam niên), Số chữ:  605
 
26 Tên bia: Bia mất đầu, Niên đại: Không niên đại, Số chữ: 150 (chữ mờ)

Chú thích:
(1) Tiến sĩ Nhữ Văn Lan:: Tham luận của ông Tăng Bá Hoành ghi là đỗ Hoàng Giáp, nhưng chính sác theo văn bia tại Quốc tử Giám Hà Nội thì cụ Nhữ Văn Lan đỗ Đồng tiến sĩ xuất thân khoa thi Quý Mùi (1463) - Chú thích của người biên tập trang web. honhuvietnam.com.
(2)  Cảnh Hưng thứ 6 (1745): Tham luận của ông Tăng Bá Hoành ghi năm Cảnh Hưng 46 (1785), Chính xác thì cuốn "Hoạch Trạch Nhữ tộc phả" được Nhữ Đình Toản tu chỉnh năm Cảnh Hưng thứ 6 (1745) 
- Chú thích của người biên tập trang web. honhuvietnam.com.
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

GIới thiệu

BÀI 2: Tài trợ, đóng góp cho hoạt động của Hội đồng Dòng họ Nhữ Việt Nam

 > BÀI 1: TRANG TT  ĐT HỌ NHỮ VIỆT NAM      Để tạo điều kiện cho các hoạt động của Hội đồng dòng họ Nhữ Việt Nam trong các năm 2010, 2011, quí I năm 2012. Hội đồng dòng họ Nhữ Việt Nam đã nhận được sự tài trợ, đóng góp của các cá nhân,...

Đăng Nhập

Bài viết mới nhất

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HỌ NHỮ VIỆT NAM
www.honhuvietnam.com      E-mail: honhuvietnam@gmail.com

Hotline:                                Fax : +84 4 3 863 1091