21:02 EST Chủ nhật, 17/11/2019

Danh mục bài viết

Gủi bài viết

Các bài viết

Trang nhất » Bài viết » Lịch sử, danh nhân...

Bia tiến sỹ tại Quốc Tử Giám Hà Nội. Bia số 79 BÀI KÝ ĐỀ TÊN TIẾN SỸ KHOA KHOA ĐINH SỬU NIÊN HIỆU CẢNH HƯNG NĂM THỨ 33 (1772)

Thứ năm - 08/03/2012 07:29

Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội, ảnh sưu tầm

 
Khoa thi:
- NHỮ CÔNG CHÂN đỗ Hoàng Giáp (đệ nhị giáp tiến sỹ xuất thân). 
- NHỮ CÔNG TOẢN* Hội nguyên, đồng Tiến sĩ khoa Bính Thìn (1736), Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu, Nhập thị nội Tham tụng, Binh bộ Thượng thư, cải thụ Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Đô đốc phủ Tả Đô đốc Quyền Phủ sự đồng dự chính vụ, trí sĩ, Trung Phái hầu sửa bài ký đề tên tiến sỹ khoa thi này (bia số 79).

Lời Ban biên tập: Trang thông tin điện tử www.honhuvietnam.com đã lần lượt đăng 09 bài ký đề tên tiến sỹ tại Văn Miếu Hà Nội. Đó là các văn bia có đề tên các cụ họ Nhữ đỗ tiến sỹ, soạn bài ký, sửa bài ký và tham gia giám thí các kỳ thi. Cụ thể như sau:

Bia số 3: Khoa thi năm 1463, Nhữ Văn Lan đỗ tiến sỹ
Bia số 43: Khoa thi năm 1664, Nhữ Tiến Dụng đỗ tiến sỹ
Bia số 48: Khoa thi năm 1680, Nhữ Đình Hiền đỗ tiến sỹ
Bia số 58: Khoa thi năm 1710, Nhữ Đình Hiền làm giám thí thi Đình
Bia số 66: Khoa thi năm 1733, Nhữ Trọng Thai đỗ Bảng nhãn
Bia số 67: Khoa thi năm 1736, Nhữ Đình Toản đỗ tiến sỹ
Bia số 72: Khoa thi năm 1752, Nhữ Đình Toản soạn bài ký
Bia số 74: Khoa thi năm 1757, Nhữ Đình Toản soạn bài ký
Bia số 79: Khoa thi năm 1772, Nhữ Công Chân đỗ hoàng Giáp, Nhữ Công Toản sửa bài ký

Trong lịch sử các kỳ thi nho giáo Việt Nam, qua các triều đại phong kiến Lý, Trần, Hồ, Lê, Mạc, Nguyễn họ Nhữ còn hai người nữa đỗ tiến sỹ, đó là:

Nhữ Mậu Tổ: Quê quán Mộ Trạch, X.Tân Hồng, H.Bình Giang, T.Hải Dương (Mộ Trạch - Đường An) đỗ tiến sỹ năm 1526 triều Lê.

Nhữ Tông (Nhữ Công Tung): Quê quán Nhữ thị, X.Thái Hoà, H.Bình Giang, T.Hải Dương (Nhữ Xá - Đường An) đỗ tiến sỹ năm 1556 triều Mạc.

Tuy nhiên 02 kỳ thi này không có (hoặc không còn) bia ghi tên tiến sỹ tại văn miếu Hà Nội. Tên các cụ được ghi danh tại bia tiến sỹ Văn chỉ Đường An (thôn Hoạch Trạch)... Hiện chúng tôi chưa sưu tầm được bản dịch hoàn chỉnh các bài ký này (sẽ đăng khi sưu tầm được).

BÀI KÝ ĐỀ TÊN TIẾN SỸ KHOA KHOA ĐINH SỬU

NIÊN HIỆU CẢNH HƯNG NĂM THỨ 33 (1772)
(bia số 79)

Kính nghĩ: Hoàng thượng ở ngôi đã 33 năm, thánh đạo đã định, văn vận khởi hưng. Thực nhờ Đại nguyên súy Thống quốc chính Thượng sư Tĩnh vương1 khôi phục mở mang pháp độ, tuyển chọn hiền tài. Mùa đông năm Nhâm Thìn, chuẩn lời tâu của Bộ Lễ, sai Phó Đô tướng Quế Quận công Trịnh Bồng làm Đề điệu, Nhập thị Bồi tụng Hộ bộ Tả Thị lang Dĩnh Thành hầu Lê Quý Đôn làm Tri Cống cử, Nhập thị Bồi tụng Binh bộ Hữu Thị lang Liên Khê hầu Vũ Miên, Hộ bộ Hữu Thị lang Thái Đình bá Vũ Trần Thiệu làm Giám thí, lấy trúng cách 13 người. Qua tháng sau Điện thí, cho 2 người đỗ Tiến sĩ xuất thân, 11 người đỗ đồng Tiến sĩ xuất thân. Bèn sai từ thần soạn bài ký khắc vào bia đá dựng ở nhà Thái học.

Thần mừng gặp lễ lớn, kính cẩn cúi đầu rập đầu dâng lời rằng:

Thánh nhân tác thành nhân tài, mà hiền tài làm cho nền trí trị được bền vững lâu dài. Cho nên nuôi dưỡng người tài năng ở trường học, dùng khoa mục để tuyển chọn, là để cho họ làm rạng rỡ pháp độ của vua, làm mưu lược của vua được tốt đẹp, há chỉ cốt làm vẻ hào nhoáng bên ngoài mà thôi đâu! Lớn có thể làm rường cột, nhỏ có thể làm rui mè. Người dũng sĩ, kẻ tâm phúc không ai không được tin dùng, như vậy mới không phụ ý nuôi dưỡng khích lệ nhân tài của nước nhà. Kinh Thi có câu: “Ái ái vương đa cát sĩ, duy quân tử sử” (Lớp lớp triều đình đông đảo hiền tài, do quân tử mà có được như vậy). Khoa này chọn người hiền, ngõ hầu cũng được như thế chăng?

 


Một phần bia số 79 - Văn bia đề tên tiến sĩ - Quốc Tử Giám Hà Nội. Ảnh : Viện nghiên cứu Hán - Nôm

 

Thần kính cẩn làm bài ký.

Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, 2 người:

HỒ SĨ ĐỐNG2 người xã Hoàn Hậu huyện Quỳnh Lưu, Huấn đạo, đỗ năm 35 tuổi, Hội nguyên.

NHỮ CÔNG CHÂN3 người xã Hoạch Trạch huyện Đường An, Tự thừa, đỗ năm 22 tuổi, Thiếu tuấn, nhiều đời đăng khoa.

Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, 11 người:

TRẦN CÔNG XÁN4 người xã An Vĩ huyện Đông Yên, Thiêm tri Hộ phiên, Tự khanh, thi đỗ năm 42 tuổi.

NGUYỄN DUY HIỆP5 người xã Đông Địa Linh huyện Phụ Dực, Giám sinh, thi đỗ năm 28 tuổi.

NGUYỄN QUÝNH6 người xã Lai Thạch huyện La Sơn, Tri huyện, Giải nguyên, thi đỗ năm 29 tuổi.

LÊ NGUYỄN THƯỜNG7 người thôn Bình Vọng huyện Thượng Phúc. Trú quán xã Phúc Khê huyện Ngự Thiên, Nho sinh trúng thức, thi đỗ năm 30 tuổi, sau đổi tên là Lê Nguyễn Triệu.

ĐÀO VŨ HƯƠNG8 người xã Đan Luân huyện Đường An, Nho sinh trúng thức, đỗ năm 30 tuổi, Văn chức.

VŨ DUY DIỆM9 người xã Hoa Đường huyện Đường An, Giám sinh, Giải nguyên, thi đỗ năm 26 tuổi.

VŨ HUY TRÁC10 người xã Lộng Điền huyện Đại An, Tự thừa, thi đỗ năm 43 tuổi, Trưởng khoa, Ứng chế hợp cách.

DƯƠNG NGUYỄN HUỐNG11 người xã ỶLa huyện Từ Liêm, Sinh đồ, thi đỗ năm 25 tuổi.

TRẦN HUY VĨ12 người xã Thọ Lão huyện Yên Lạc, Giám bạ, thi đỗ năm 34 tuổi.

NGUYỄN HUY BIỂU13 người xã Nãi Sơn huyện Nghi Dương, Nho sinh, thi đỗ năm 29 tuổi.

LƯU TIỆP14 người xã Nguyệt Áng huyện Thanh Trì, Giám sinh, thi đỗ năm 32 tuổi.

Bia dựng ngày 24 tháng 12 niên hiệu Cảnh Hưng thứ 33 (1772) Hoàng Lê.

Thiếu tuấn, đồng Tiến sĩ khoa Đinh Sửu (1757), Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Đông các Đại học sĩ Nhập thị Thiêm sai Tri Thị nội thư tả Hộ phiên Thự thiêm Đô Ngự sử kiêm Quốc tử giám Tư nghiệp Tứ Xuyên bá Phan Trọng Phiên15 vâng sắc soạn.

Hội nguyên, đồng Tiến sĩ khoa Bính Thìn (1736), Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Nhập thị nội Tham tụng, Binh bộ Thượng thư, cải thụ Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc, Quyền Phủ sự đồng dự chính vụ, trí sĩ, Trung Phái hầu Nhữ Công Toản vâng sắc nhuận (sửa).

Chú thích:

(*) Nhữ Công Toản: Trước tên là Nhữ Đình Toản, sau Chúa Trịnh yêu quý đổi sang Công Toản. Đỗ tiến sỹ năm 1736, là con trai tiến sỹ Nhữ Tiến Hiền (1680), Cháu nội tiến sỹ Nhữ Tiến Dụng (1663), Cha Hoàng Giáp Nhữ Công Chân (1772), em con chú con bác ruột của Bảng Nhãn Nhữ Trọng Thai (1733). Làm quan đến Tham tụng, Thượng Thư Bộ Binh, Tả Đô Đốc (chú thích này của www.honhuvietnam.com). 

1. Tước phong của Trịnh Sâm.

2. Hồ Sĩ Đống (1739-1785) hiệu là Trúc Hiên Dao Đình tự là Long Thủ và Thông Phủ người xã Hoàn Hậu huyện Quỳnh Lưu (nay thuộc xã Quỳnh Đôi huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An). Ông từng giữ các chức quan, như Tả Thị lang Bộ Hộ, Quyền Phủ sự, Đồng Tham tụng, tước Kinh Dương hầu và được cử làm Phó sứ sang nhà Thanh (Trung Quốc). Sau khi mất, ông được tặng Thượng thư Bộ Binh và ban tước Quận công. Ông còn có tên là Hồ Sĩ Đồng

3. Nhữ Công Chân (1751-1805) người xã Hoạch Trạch huyện Đường An (nay thuộc xã Thái Học huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương). Ông là cháu nội Nhữ Tiến Hiền, con của Nhữ Đình Toản và làm quan Hàn lâm Thị chế, Tri Công phiên, Thự Lễ bộ Hữu Thị lang. Dòng họ ông nhiều đời đăng khoa.

4. Trần Công Xán (1731-?) người xã Yên Vĩ huyện Đông Yên (nay là xã An Vĩ huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Thượng thư Bộ Hình, tước Phái Trạch hầu. Sau ông đổi tên là Trần Công Thước.

5. Nguyễn Duy Hiệp (1744-?) người xã Đông Địa Linh huyện Phụ Dực (nay thuộc huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình). Thời Tây Sơn, ông lánh cư ở ẩn. Đến đời Nguyễn Gia Long (1802-1819) ra nhậm chức Học sĩ, rồi bổ chức Hiệp trấn Kinh Bắc, Đốc học Quảng Nam, sau cáo quan về nhà. Ông nguyên tên là Nguyễn Bá Thông. Có tài liệu ghi ông là Nguyễn Duy Hợp.

6. Nguyễn Quýnh (1734-?) người xã Lai Thạch huyện La Sơn (nay thuộc xã Song Lộc huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh). Ông là em của Nguyễn Huy Oánh và làm quan Hàn lâm Thị chế, Đốc thị Thuận Quảng. Sau ông đổi tên là Nguyễn Trực. Có tài liệu ghi ông là Nguyễn Huy Quýnh hoặc Nguyễn Duy Quýnh.

7. Lê Nguyễn Thường (1743-?) người thôn Bình Vọng huyện Thượng Phúc (nay thuộc huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây), trú quán xã Phú Khê huyện Ngự Thiên (nay là xã Hiệp Hòa huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình). Ông làm quan Hàn lâm Thị thư, Thị Tham chính Kinh Bắc. Sau ông đổi tên là Lê Nguyễn Triệu.

8. Đào Vũ Hương (1743-?) người xã Đan Luân huyện Đường An (nay thuộc xã Nhân Quyền huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Hàn lâm Hiệu thảo, Đốc đồng xứ Sơn Nam.

9. Vũ Duy Diệm (1737-?) người xã Hoa Đường huyện Đường An (nay thuộc xã Thúc Kháng huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Hàn lâm viện Thị chế, Thự Hiến sát sứ.

10. Vũ Huy Trác (1730-?) người xã Lộng Điền huyện Đại An (nay thuộc xã Nghĩa Đồng huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định). Ông làm quan Hàn lâm viện Thị giảng, Tả Thị lang Bộ Lễ kiêm Quốc tử giám Tư nghiệp.

11. Dương Nguyễn Huống (1748-?) người xã Ỷ La huyện Từ Liêm (nay thuộc xã Dương Nội huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Hàn lâm Hiệu thảo.

12. Trần Huy Vĩ (1739-?) người xã Thọ Lão huyện Yên Lạc (nay thuộc xã Tiến Thịnh huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc). Ông Làm quan Đô Cấp sự trung. Có tài liệu ghi ông là Trần Huy Thường.

13. Nguyễn Huy Biểu (1744-?) người xã Nãi Sơn huyện Nghi Dương (nay thuộc xã Tú Sơn huyện Kiến Thụy Tp. Hải Phòng). Ông làm quan Hàn lâm viện Thị chế. Có tài liệu ghi ông là Nguyễn Quang Biểu hoặc Nguyễn Trọng Biểu.

14. Lưu Tiệp (1742-?) người xã Nguyệt Áng huyện Thanh Trì (nay thuộc Đại Áng quận Hoàng Mai Tp. Hà Nội). Ông làm quan Hàn lâm viện Thị độc, Đốc trấn Cao Bằng.

15. Phan Trọng Phiên: Xem chú thích 6, Bia số 74.

(theo bản dịch của Viện Nghiên cứu Hán Nôm)

Sưu tầm : Nhữ Đình Văn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

GIới thiệu

BÀI 2: Tài trợ, đóng góp cho hoạt động của Hội đồng Dòng họ Nhữ Việt Nam

 > BÀI 1: TRANG TT  ĐT HỌ NHỮ VIỆT NAM      Để tạo điều kiện cho các hoạt động của Hội đồng dòng họ Nhữ Việt Nam trong các năm 2010, 2011, quí I năm 2012. Hội đồng dòng họ Nhữ Việt Nam đã nhận được sự tài trợ, đóng góp của các cá nhân,...

Đăng Nhập

Bài viết mới nhất

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HỌ NHỮ VIỆT NAM
www.honhuvietnam.com      E-mail: honhuvietnam@gmail.com

Hotline:                                Fax : +84 4 3 863 1091