01:24 EST Thứ năm, 21/11/2019

Danh mục bài viết

Gủi bài viết

Các bài viết

Trang nhất » Bài viết » Lịch sử, danh nhân...

Bia tiến sỹ tại Quốc Tử Giám Hà Nội. Bia số 66 BÀI KÝ ĐỀ TÊN TIẾN SỸ KHOA QÚY SỬU, NIÊN HIỆU LONG ĐỨC NĂM THỨ 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông

Thứ năm - 08/03/2012 06:19

Khuê Văn các: Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội, ảnh sưu tầm


 
Khoa thi Nhữ Trọng Thai* đỗ Bảng nhãn (bia số 66). 
Trích từ sách: Văn Bia Quốc Tử Giám Hà Nội, nhà XB Văn hóa – Thông tin của tác giả Đỗ Văn Ninh

Lời biên tập: Trang thông tin điện tử họ Nhữ Việt Nam sẽ lần lượt trích đăng các bài ký trên bia đá đề tên tiến sỹ tại Quốc Tử Giám Hà Nội mà nội dung có liên quan đến các cụ tổ họ Nhữ như: Bia có đề tên các cụ họ Nhữ đỗ tiến sỹ, các cụ họ Nhữ là người soạn hoặc sửa bài ký, các cụ họ Nhữ được giao làm giám thí… theo bản dịch của nhà nghiên cứu Đỗ Văn Ninh – website xin có lời cảm ơn nhà nghiên cứu Đỗ Văn Ninh.

Bài ký đề tên Tiến sĩ khoa Quý Sửu
niên hiệu Long Đức năm thứ 2(1)

(bia số 66)

Từng nghe:

Nhà nước muốn tô điểm nền trị bình, tất phải cầu người hiền để làm trụ cột; triều đình muốn xây dựng nền văn giáo tất phải biểu dương người thiện để nêu tiếng tăm, điều lệ dựng bia đề tên Tiến sĩ được đặt ra phải chăng là vì thế ?

Kính nghĩ:

Hoàng thượng bệ hạ vâng mệnh trời, nối nghiệp lớn, đem ánh sáng của quẻ Ly(2) mà chiếu rọi bốn phương, coi vẻ đẹp quẻ Bí(3) mà xếp đặt thiên hạ. Thực nhờ có Nguyên suý Thống quốc chính, Thượng sư thái phụ thông đức anh nghi thánh công Uy vương sửa sang chung chí, chấn chỉnh mọi đường tô điểm cảnh thái bình, tìm kiếm bậc anh tuấn.

Mùa xuân tháng 3 năm Quý Sửu, mở khoa thi Hội cho những cống sĩ trong nước, sai Đô đốc phủ Tả đô đốc Thự phủ sự(4), Thái bảo Siêu quận công bề tôi là Nguyễn Minh Châu làm Đề điệu. Bồi tụng Lại bộ Tả thị lang Nhập thị Kinh diên, Lại trạch hầu, bề tôi là Phạm Đình Kính làm Tri cống cử; Bồi tụng Hộ bộ Hữu thị lang, Xuân trì hầu, bề tôi là Đỗ Lệnh Danh và Hình bộ Hữu thị lang, bề tôi là Nguyễn Trọng Thường cùng làm Giám thí, cùng với các quan chức trong ngoài chia nhau mỗi người một việc.

Lúc ấy số người đến dự thi có gần 3000 người, chọn những người trội nhất, có bọn Nguyễn Hồ Quýnh 8 người.

Ngày... tháng 5 vời vào thi Điện, cho Nhà Trọng Thai đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ nhị danh, Trần Trọng Liêu và Nguyễn Hồ Quýnh đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân và bọn Nguyễn Kỳ Nhậm 15 người đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân.

Truyền gọi xướng xanh ở trước sân rồng, đề tên lên bảng vàng treo ở nhà Thái học, lại ban đồ triều phục mũ đai; cho yến Quỳnh, hoa bạc, ban ơn thứ bậc, đều như lệ xưa, khắc đá đề tên cũng theo phép cũ. Đặc cách sai bề tôi giữ việc văn thư soạn văn để ghi sự thực.

Bề tôi kinh vâng lời thánh, khôn xiết vui mừng, kính cẩn chắp tay cúi đầu dâng lên lời rằng:

Khoa thi Tiến sĩ, đời nào cũng trọng, song việc khắc đá đề tên thì chưa có.


Một phần bia số 66 - Văn bia đề tên tiến sĩ Quốc Tử Giám Hà Nội. Ảnh: Viện nghiên cứu Hán - Nôm

 

Kính nghĩ:

Quốc triều mở vận, các thánh nối truyền cất nhắc kẻ hiền lương, tôn trọng người nho nhã, việc dựng bia đề tên Tiến sĩ bắt đầu từ khoa Giáp Thìn niên hiệu Hồng Đức, khôi phục từ khoa Canh Thìn, niên hiệu Quang Hưng, đến khoa Canh Dần niên hiệu Vĩnh Thịnh lại tiếp tục, từ đó đến nay nghiễm nhiên thành một lệ luật quan trọng. Cung Huỳnh hàng dãy(5) dòng Bích(6) trôi thơm, phô vẻ quý trên côn thường, thi ánh sáng cùng tinh nhật, nói về ơn khuyến khích thưởng khen và công cổ vũ bồi dưỡng thực có thể là hơn hẳn các đời trước.

Vậy những kẻ sĩ sinh nhằm thời nay, thấm nhuần đức cả, mang đội ơn sâu, tấm lòng báo đáp phải nghĩ thế nào? Hẳn là phải rèn chí như ngọc vàng, luyện tâm như sắt đá, bụi nhơ gột rửa, tiết hạnh giũa mài, "tứ tri" thề giã dạ trắng trong, "Tam pháp"(7) quyết trọng bề cẩn thận. Đem chính trực trung hậu mà cư xử trong triều, lấy đạo đức nhân nghĩa mà phù tá mọi việc, phải coi thân mình là nền trụ của miếu đường làm cho nước nhà được vững như Thái Sơn bàn thạch, ngõ hầu mới khỏi phụ những điều đã học và không thẹn với hai chữ khoa danh, mà họ tên trên tấm bia này mới có thể lưu truyền mãi mãi.

Trái lại, nếu lời nói không ăn khớp với việc làm, danh một đường mà thực một nẻo, thì khác nào ngọc lành mang vết, khó rửa, khó mài mà người đời sẽ vạch rõ ra mà bình phẩm. Đối với những lời phê phán nghiêm trang ấy có thể không e sợ được chăng? Cho nên tấm bia này được dựng lên, không những là sự vẻ vang của khoa cử mà còn là lời răn bảo kẻ sĩ phu, công tác thành là ở đó, sự quan hệ của giáo hoá cũng ở đó, công dụng há phải nhỏ đâu? Bề tôi kính ghi.

Trung trinh đại phu(8), Hàn lâm viện Thừa chỉ, bề tôi là Nguyễn Quán Giai vâng sắc soạn.

Đặc tiến Kim tử vinh lộc đại phu, Tham tụng, Binh bộ Thượng thư kiêm Đông các đại học sĩ, Tri Hàn lâm viện sự, Thiếu bảo Thuật quận công bề tôi là Phạm Khiêm ích vâng sắc sửa.

Bia lập ngày 19 tháng 12 niên hiệu Long Đức năm thứ 3(9)(1734) nước Việt.

Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ nhị danh:

- Nhữ Trọng Thai: xã Hoạch Trạch, huyện Đường An - Giáo thụ.

Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân 2 người:

- Trần Trọng Liêu: xã Văn Giáp, huyện Thượng Phúc, Huấn đạo.

- Nguyễn Hồ Quýnh: Phường Thịnh Quang, huyện Quảng Đức, Nho sinh trúng thức.

Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân 15 người:

- Nguyễn Kỳ Nhậm; xã Lê Xá, huyện Chương Đức, Nho sinh trúng thức.

- Trần Công Hân: xã Cổ Am, huyện Vĩnh Lại, Tri huyện.

- Vũ Đình Dung: Phường Thịnh Quang, huyện Quảng Đức, nguyên quán xã Phùng Xá, huyện Thạch Thất, Viên ngoại lang.

- Trần Mô: xã Di Ái, huyện Đan Phượng, Nho sinh trúng thức.

- Trần Đồng: xá Đan Phượng Thượng, huyện Đan Phượng, Sinh đồ.

- Đỗ Thành Doãn: xã Lan Xuyên, huyện Đong An, Nho sinh trúng thức.

- Trần Hiền: xã Vấn Canh, huyện Từ Liêm, Điển hàn.

- Trương Nguyễn Điều: xã Xuân Canh, huyện Đông Ngạn, nguyên quán xã Hàn Lạc, huyện Gia Lâm, Lang Trung(10)

- Nguyễn Hành: xã Nguyệt Áo, huyện La Sơn, Giám sinh.

- Nghiêm Bá Đĩnh: xã Tây Mỗ, huyện Từ Liêm, Tự Thừa.

- Trần Danh Tiêu: xã An Sở, huyện Đan Phượng, Sinh đồ.

-Nguyễn Huy Thuật: xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, Điển bạ.

Bề tôi là Nguyễn Viết Giai, Trung thư Giám Hoa văn học sinh, xã Phú Thị, huyện Gia Lam vâng sắc viết.

Bề tôi Hoàng Quang Trạch, Xã Trưởng, xã Gia Đức, huyện Thuỷ Đường vâng sắc khắc.
 

Chú thích:

(*) Nhữ Trọng Thai: Còn có tên khác là Nhữ Trọng Đài, ông là cháu nội Tiến sỹ Nhữ Tiến Dụng, cháu gọi Tiến sỹ Nhữ Tiến Hiền là chú ruột, anh em con bác con chú ruột với tiến sỹ Nhữ Đình Toản. Làm quan đến Hiến sát sứ (chú thích này của www.honhuvietnam.com)
1 Khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đức năm thứ 2: năm 1733 đời Lê Thuần Tông.
2. Quẻ Ly: một trong 8 quẻ Kinh Dịch, vị trí ở phương Nam, tượng trưng cho văn minh sáng sủa.
3. Quẻ Bí: một trong 8 quẻ của Kinh Dịch, tượng trưng cho sự tốt đẹp.
4. Thự phủ sự: chức võ quan chuyên giữ việc quân đặt thời Lê Thế Tông, trật Nhất nhị phẩm. Được gọi là quan Ngũ phủ.
5. Cung Huỳnh: nhà học.
6. Dòng Bích: nghĩa như dòng Phán, sông chảy qua Phán, tức là nhà học của các nước chư hầu xưa.
7. Tứ tri, tam pháp: - Tứ tri là 4 người biết. Đời Hậu Hán có người đang đêm đem vàng bạc đến hối lộ Dương Chẩn và nói: đêm hôm không ai biết. Chẩn nói: "Trời biết, quỷ thần, tôi biết, ông biết. Sao nói không ai biết". Rồi không nhận. Khi Chẩn chết, người ta lập miếu tôn thờ, gọi là "Tứ tri miếu". - Tam pháp là thanh (thanh liêm), thận (cẩn thận), cần (siêng năng).
8. Trung trinh đại phu: hàm phong cho quan Chánh tứ phẩm.
9. Niên hiệu Long Đức năm thứ 3: năm 1734.
10. Lang trung: chức quan phụ trách các ty của 6 bộ, trật Chánh lục phẩm. 
 
Sưu tầm : Nhữ Đình Văn

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a
nhuducthang - 21/12/2016 00:25
Bai viet rat hay co noi dung nguon gic ro rang cam ob tac gia nhieu
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

GIới thiệu

Bài 3: LỜI CẢM ƠN

    LỜI CẢM ƠN   Để đáp ứng cho các  hoạt động của Hội đồng dòng họ Nhữ Việt Nam như: - Thăm viếng “vấn Tổ, tìm Tông”, giao lưu  giữa Hội đồng dòng họ Nhữ Việt Nam với các địa phương, tìm hiểu truyền thống, cội nguồn để viết bài giới thiệu về họ Nhữ các nơi; - Duy...

Đăng Nhập

Bài viết mới nhất

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HỌ NHỮ VIỆT NAM
www.honhuvietnam.com      E-mail: honhuvietnam@gmail.com

Hotline:                                Fax : +84 4 3 863 1091