02:12 ICT Thứ hai, 20/01/2020

Danh mục bài viết

Gủi bài viết

Các bài viết

Trang nhất » Bài viết » Lịch sử, danh nhân...

Bia tiến sỹ tại Quốc Tử Giám Hà Nội. Bia số 58 BÀI KÝ ĐỀ TÊN TIẾN SỸ KHOA CANH DẦN, NIÊN HIỆU VĨNH THỊNH, NĂM THỨ 6 (1710) đời vua Lê Dụ Tông

Thứ năm - 08/03/2012 18:04

Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội, ảnh sưu tầm

 
Khoa thi Bồi tụng, Hình bộ Tả thị lang, Thọ nhạc tử Nhữ Tiến Hiền làm Giám thí thi Đình (bia số 58). 
Trích từ sách: Văn Bia Quốc Tử Giám Hà Nội, nhà XB Văn hóa – Thông tin của tác giả Đỗ Văn Ninh

Lời ban biên tập: Trang thông tin điện tử họ Nhữ Việt Nam sẽ lần lượt trích đăng các bài ký trên bia đá đề tên tiến sỹ tại Quốc Tử Giám Hà Nội mà nội dung có liên quan đến các cụ tổ họ Nhữ như: Bia có đề tên các cụ họ Nhữ đỗ tiến sỹ, các cụ họ Nhữ là người soạn hoặc sửa bài ký, các cụ họ Nhữ được giao làm giám thí… theo bản dịch của nhà nghiên cứu Đỗ Văn Ninh – website xin có lời cảm ơn nhà nghiên cứu Đỗ Văn Ninh.

Bài ký đề tên Tiến sĩ khoa Canh Dần
niên hiệu Vĩnh Thịnh, năm thứ 6
(1)
(bia số 58)

Nhân tài là nguyên khí của nước, nguyên khí bền vững, thì nước hùng cường; khoa mục là đường chính của sĩ phu, đường chính mở rộng thì đời hanh thịnh.

Kính nghĩ: Hoàng thượng(2) bệ hạ, nối nghiệp lớn trong cảnh vái nhường(3) cầm vận mệnh một đời bình trị, thực nhờ có Đại nguyên suý, Thống quốc chính, Sư thượng An vương đã đem tình nhân hậu, giúp chí anh hùng, mở mang văn trị, tôn trọng Nho khoa.

Mùa xuân năm Canh Dần, niên hiệu Vĩnh Thịnh năm thứ 6, xuống chiếu cho mở khoa thi Hội lớn, thi kẻ sĩ bốn phương, người coi thi tâu lên những sĩ tử trúng cách có bọn Nguyễn Đồng Lâm 21 người được vào thi Đình. Chiếu sai: Thiếu uý, Cơ quận công, Trịnh Lãng làm Đề điệu; Tham tụng, Hình bộ Thượng thư, Khánh sơn bá, Nguyễn Thế Phiên, làm Tri cống cử; Bồi tụng, Binh bộ Tả thị lang, thự Trung thư giám, Hải khánh tử Nguyễn Công Đổng và Bồi tụng, Hình bộ Tả thị lang, Thọ nhạc tử Nhữ Đình Hiền cùng làm Giám thí, cắt đặt trông coi mọi việc.

Khi dâng quyển lên đọc, nhà vua thân tự xét duyệt, định thứ bậc trên dưới, cho Phạm Khiêm ích đỗ Tiến sĩ cập đệ hạng thứ 3, Nguyễn Công Khuê đỗ Tiến sĩ xuất thân và bọn Nguyễn Đang 19 người đỗ Đồng tiến sĩ xuất thân.

Xướng danh những người đỗ, Bộ Lễ rước bảng vàng ra treo ở ngoài cửa Thái học, lại ban cho mũ, đai, xiêm áo mời dự yến ở vườn Quỳnh, ơn ban thứ bậc, nhất nhất đều theo lệ cũ, dân chúng Trường An(4) vui mừng đồn đại, ai nấy đều ca ngợi các người đỗ khoa này đều rất xứng đáng. Sau đó tuỳ tài sử dụng, bổ vào hàng quan lại, người thì nương gác phượng mà thảo văn, người thì đội trãi quan mà giữ phép, trong ngoài đổi thay, ai cũng có nhiệm vụ, còn về tiết tháo tài năng, qua đó đã đủ thấy đại khái. Nay nhờ Thánh thượng đem tài quyết đoán, mở nền nhân văn, nhớ lại việc dựng bia đề tên, làm một điển lệ trọng thể của triều đình sùng Nho đạo, nhưng vừa qua chưa có lúc nào làm được, liền sai bộ Công khắc đá để truyền lâu đài, từ thần soạn văn để ghi sự thực. Bề tôi vâng lời thánh dạy, khôn xiết vui mừng cảm kích kính cẩn tâu lên rằng: Đạo Nho được dùng, thực có ích cho việc trị nước; khoa thi được đặt, để thu vét những bậc anh tài, cái tên Tiến sĩ có tự đời Thành Chu, qua đời Đường, đời Tống trở về sau đều có khoa thi Tiến sỹ.

Nước Việt ta, nhà Lý, nhà Trần dấy lên, cũng đều trọng tuyển người qua khoa cử, cái hiệu quả thu dùng được người tài của các đời ấy, có thể tưởng tượng mà thấy được. Thánh triều ta, các đấng thánh tổ thần tông, dù là sáng nghiệp hay nối ngôi cũng đều chú ý kén người hiền, mở khoa thi kẻ sĩ, song việc làm Đăng khoa lục, dựng bia đề thì chỉ có đời Hồng Đức là thịnh nhất.

Sau khi khôi phục, các thánh nối truyền, tuy vẫn khuôn xưa phép cũ, song cũng tùy thời mở khoa mục, hết sức khuyến khích nhân tài, mà đến việc khắc tên bia đá, soạn văn ghi chép thì đến đời Thịnh Đức mới thực hoàn toàn.

Từ đấy đến nay, khoa thi ngày càng thịnh, nhân tài càng nhiều, thế mà việc dựng bia cũng chưa làm được.

Đời Thánh thượng nay văn được giũa gọt, chất thêm ngọc vàng, Nho đạo tôn sùng, văn vật thịnh vượng, không những chỉ biểu dương những bậc Tiến sỹ của bản triều, mà còn ghi đủ cả những người đỗ các khoa đười trước. Bia cao vòi vọi, tên họ vẻ vang, đã nêu rõ được sự long trọng của Nho khoa, lại để lại cho kẻ sĩ phu trong vào mà lấy làm vinh hạnh, đối với việc bồi dưỡng văn phong, vun trồng thế đạo, há chẳng là rực rỡ hơn đời trước, soi sang cho đười sau đó ru!

Kẻ sĩ sinh ra dưới đời minh thánh, thi đỗ cao, làm quan lớn, lại được nhiều điều tô điểm cho như ngày nay thì lòng cảm kích phải như thế nào? Hãy nên biết lòng thành khẩn nhận lấy phúc lành, bền dạ thuỷ chung, lo bề báo đáp; đứng trong triều thì lấy chính trực, trung hậu làm gốc, ra quan ngoài thì lấy thanh liêm, cẩn thận làm đầu, đốc lòng yêu nước thờ vua, giũa mài chí sửa mình giữ phép, lấy đạo đức để giúp chúa, đem thi thư mà dạy dân; đi sứ thì phải như Phú Bật không nhục mệnh nhà vua, làm việc nước thì phải như Vương Tăng(5) không hổ danh khoa bảng; có thế thì trên mới khỏi phụ lòng thánh thượng đã ban khen, dưới mới khỏi phụ những điều đời mình đã học. Được thế thì công danh sự nghiệp cùng với tâm bia đá mãi mãi không mòn.

Trái lại, nếu biến thông làm tắc, việc chẳng như lời, thì là hiền hay ngu, là trung hay nịnh, là phải hay trái, là đúng hay sai, đã có mắt mọi người nhìn vào, tay mọi người chỉ vào, che dấu sao được! Bề tôi kính ghi.


Một phần bia số 58 - Văn bia đề tên tiến sĩ Quốc Tử Giám Hà Nội. Ảnh: Viện nghiên cứu Hán - Nôm

Cẩn sự lang, Hàn lâm viện Hiệu thảo, bề tôi là Nguyễn Nham vâng sắc soạn.

Tá lý công thần, Đặc tiến Kim tử vinh lộc đại phu, Tham tụng, Lại bộ Thượng thư, kiêm Đông các đại học sĩ, Thiếu phó, Liêm quận công, bề tôi là Nguyễn Quý Đức vâng sắc sửa.

Bia lập ngày mồng 2 tháng 3 niên hiệu Vĩnh Thịnh năm thứ 13 (1717) nước Việt.

Đệ nhất giáp Tiến sĩ xuất thân 1 người:

- Phạm Khiêm Ích: xã Bảo Triện, huyện Gia Định.

Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân 1 người:

- Nguyễn Công Khuê: xã Lê Xá, huyện Chương Đức.

Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân 19 người:

- Nguyễn Đăng: xã Cao Xá, huyện Cẩm Giàng.

- Lê Vỹ: xã Hoà Bình, huyện Văn Giang.

- Nguyễn Đồng Lâm: xã Ngọc Hoạch, huyện An Định.

- Nguyễn Quốc Tỉnh: xã ông Mặc, huyện Đông Ngạn.

- Lê Khắc Thuần: xã Phù Minh, huyện Hoàng Hoá.

- Nguyễn Đức Lăng: xã Phù Chẩn, huyện Đông Ngạn.

- Hồng Hạo: xã Kim Lũ, huyện Thanh Trì.

- Nguyễn Quang Dương: xã Kiệt Đặc, huyện Chí Linh.

- Lê Hữu Mưu: xã Liêu Xá, huyện Đường Hào.

- Đỗ Lệnh Danh: xã Nhân Mục, huyện Thanh Trì.

- Nguyễn Viết Tú: xã ích Minh, huyện An Lạc.

- Phạm Đình Kính: xã Vĩnh Lại, huyện Thiên Bản.

- Đặng Khanh: xã Phú Thị, huyện Đông An.

- Quản Danh Dương: xã Hoa Cầu, huyện Văn Giang.

- Đoàn Quang Dung: xã Phú Thị, huyện Gia Lâm.

- Phạm Duy Cơ: xã Từ Quán, huyện Giao Thuỷ.

- Nguyễn Đăng Cơ: xã Võng La, huyện An Lăng.

- Hoàng Công Bảo; xã Thổ Hoàng, huyện Thiên Thi.

- Ngô Hưng Giáo: xã Đào Hoa, huyện Đông Thành.

Bề tôi là Nguyễn Đình Cổn, xã Phù Chẩn, huyện Đông Ngạn, Thị nội thư tả, Binh phiên, vâng sắc viết.

Chú thích:
1 Khoa Canh Tuất niên hiệu Vĩnh Thịnh năm thứ 6: năm 1710 đời Lê Dụ Tông.
2. Hoàng thượng: đây chỉ Lê Dụ Tông.
3. Cảnh vái nhường: ý nói vua nhường ngôi cho người hiền không phải là con, như vua Nghiêu nhường ngôi cho vua Thuấn.
4. Trường An: đây chỉ kinh đô Thăng Long.
5. Phú Bật Vương Tăng: xem chú thích 7+8 bia số 56.

 Sưu tầm : Nhữ Đình Văn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

GIới thiệu

Bài 3: LỜI CẢM ƠN

    LỜI CẢM ƠN   Để đáp ứng cho các  hoạt động của Hội đồng dòng họ Nhữ Việt Nam như: - Thăm viếng “vấn Tổ, tìm Tông”, giao lưu  giữa Hội đồng dòng họ Nhữ Việt Nam với các địa phương, tìm hiểu truyền thống, cội nguồn để viết bài giới thiệu về họ Nhữ các nơi; - Duy...

Đăng Nhập

Bài viết mới nhất

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HỌ NHỮ VIỆT NAM
www.honhuvietnam.com      E-mail: honhuvietnam@gmail.com

Hotline:                                Fax : +84 4 3 863 1091