15:23 EST Thứ sáu, 22/11/2019

Danh mục bài viết

Gủi bài viết

Các bài viết

Trang nhất » Bài viết » Lịch sử, danh nhân...

Bia tiến sỹ tại Quốc Tử Giám Hà Nội. Bia số 48 BÀI KÝ ĐỀ TÊN TIẾN SỸ KHOA CANH THÂN, NIÊN HIỆU VĨNH TRỊ, NĂM THỨ 5 (1680) đời vua Lê Hy Tông

Thứ tư - 07/03/2012 22:07

Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội, ảnh sưu tầm

 
Khoa thi cụ Nhữ Tiến Hiền* đỗ tiến sỹ (bia số 48). 
Trích từ sách: Văn Bia Quốc Tử Giám Hà Nội, nhà XB Văn hóa – Thông tin của tác giả Đỗ Văn Ninh

Lời ban biên tập: Trang thông tin điện tử họ Nhữ Việt Nam sẽ lần lượt trích đăng các bài ký trên bia đá đề tên tiến sỹ tại Quốc Tử Giám Hà Nội mà nội dung có liên quan đến các cụ tổ họ Nhữ như: Bia có đề tên các cụ họ Nhữ đỗ tiến sỹ, các cụ họ Nhữ là người soạn hoặc sửa bài ký, các cụ họ Nhữ được giao làm giám thí… theo bản dịch của nhà nghiên cứu Đỗ Văn Ninh – website xin có lời cảm ơn nhà nghiên cứu Đỗ Văn Ninh.

Bài ký đề tên Tiến sĩ khoa Canh Thân
niên hiệu Vĩnh Trị năm thứ 5
(l).
(bia số 48)

Tác dụng của đạo Nho thực có bổ ích cho đường lối trị nước; thiết lập ra khoa mục cốt để tìm kiếm được các bậc hiền tài.
Trông lên Quốc triều ta, vua Hy Tông Chương hoàng đế, lấy tư chất kiến kiện(2) đương vận hội thái hanh, nhờ được vị Hoằng tổ Dương Vương sửa đổi quang cảnh kiền khôn, chăm lo công việc trị nước, xét nhân văn để giáo hoá thiên hạ, đặt khoa cử để thu dụng nhân tài. Năm Canh Thân niên hiệu Vĩnh Trị năm thứ 5, nhà vua mở khoa thi lớn cho sĩ tử khắp thiên hạ, cử ra các chức Đề điệu, Tri cống cử, Giám thí để chia nhau làm việc Khi ấy những người đua tài vào thi có trên 2000, đến kỳ thứ tư, chỉ tuyển được bọn Nguyễn Côn 19 người là giỏi hơn cả, cho vào đối sách ở điện đình. Nhà vua thân hành xem xét, cân nhắc, định ra thứ bậc cao thấp, cho bọn Phạm Công Thiện 2 người đỗ Tiến sĩ xuất than và bọn Nguyễn Côn 17 người đỗ Đồng tiến sĩ xuất thân.

Sau khi xướng tên những người thi đỗ, bộ Lễ, mang bẳng vằng treo ở ngoài cửa nhà Thái học, rồi lại cấp cho xiêm áo, mũ đai, ban cho yên Quỳnh, hoa bạc(3). Về mặt lễ nghi tiếp đãi người hiền mà sử dụng, đặt vào các chức, chia ra khắp nơi. Những người khoa thi để lấy học trò. Ngay trong các năm về các đời Thuận Bình. Chính Trị, Gia Thái là lúc đang phải mưu này không những có tác dụng với thiên hạ, nhà nước trong thời bấy giờ mà còn mãi mãi đến ngày nay.

Nay Hoàng Thượng ta lên nhân nghiệp to, nối chí đời trước, lại nhờ có vị Đại nguyên suý Thống quốc chính sư thượng An Vương noi theo lê lối tổ tiên, mở mang công cuộc bình trị, trong lúc muôn công nghìn việc đều được quan tâm thì riêng một việc sung Nho lại càng chăm chú. Phàm các khoa thi Tiến sĩ, khoa nào chưa có bia, đều sai bộ Công làm bia đá để lưu truyền được lâu, từ thần làm bài kỹ để ghi nhớ sự thực. Lũ bề tôi theo chức trách phải làm, không dám vì vụng kém mà từ chôi. Vậy xin vâng lời như sau:

Việc mở khoa thi, tìm người giỏi có từ lâu, riêng về khoa thi Tiến sĩ, lại lấy được nhiều người giỏi hơn cả. Ở nước Việt ta, từ đời lý, đời Trần dựng nước, đều nhờ đó làm công cụ để lên cõi trị bình. Nhưng tuỳ từng thờì kỳ khi theo khi bỏ, lúc làm lúc thôi, nói về việc làm được tốt đẹp, được đều đặn thì chưa bao giờ thịnh bằng Quốc triều ta. Từ khi vua Thái Tổ Cao hoàng đế mới gây cơ nghiệp, đã xuống tờ chiếu về việc gây dượng hiền tài, rồi đến các vị Hoàng đế nối nghiệp về sau, cũng đều mở khoa thi để lấy học trò. Ngay trong các năm về các đời Thuận Bình, Chính Trị, Gia Thái là lúc đang phải mưu tính những việc lớn lao, cũng vẫn mở các kỳ thi Chế khoa để tìm lấy người tài giỏi, từ đời Quang Hưng trở đi, thiên hạ đã gần được bình phục thì lại mở khoa Tiến sĩ. Các vua sau đó thần truyền thánh nối, giữ phép noi khuôn, cứ 3 năm một khoa, đời nào cũng theo đúng thế, nên về việc chọn được nhiều người, thấy trong Đăng khoa lục, ghi tên nhan nhản. Nhưng từ năm Bính Thân(4) trở đi, việc lập bia các Tiến sĩ chưa cử hành được. Nay lại được nhà Thánh quan tâm, tô điểm thêm cho nền văn hoá, lại đem việc đó chấn chỉnh và biểu dương lên, bao tấm bia đá nguy nga cho người đời trọng vọng, bao dòng họ tên rành mạch cho đời sau quan chiêm, thực là tốt đẹp lắm thay! Đấy là tấm lòng sùng Nho trọng đạo của Thánh thượng đem cái chất, như vàng ngọc, rũa mài cho thêm vẻ đẹp, thực là đủ phần vật chất, rất mực văn hoa, vẻ vang cho người trước, rực rỡ đến đời sau vậy. Các Tiến sĩ khoa này được ghi tên vào bia ấy, ai là người chính trực quân tử, tất người ta thấy tên sẽ khen rằng "người này trên không phụ ơn vua, dưới không phụ công học hành thuở bình nhật", còn ai là người tà khúc tiểu nhân tất người ta sẽ chỉ tên mà cười rằng người này chỉ làm cái luỵ cho khoa bảng, làm vết nhọ cho tấm bia". Vậy thì bia này lập lên, có phải chỉ để đẹp mắt mà thôi đâu? Nó còn nắn cho ngay, mài cho sắc, gạn chỗ đục, vục chỗ trong, có quan hệ đến danh giáo không phải là nhỏ vậy. Lũ bề tôi xin làm bài ký.
 


Một phần bia (số 48) đề tên tiến sĩ khoa Canh Thân (1680) - Quốc Tử Giám Hà Nội. Ảnh: Viện Nghiên cứu Hán - Nôm

Bề tôi là Nguyễn Nham, Cẩn sự tá lang(5), Hàn lâm viện hiệu thảo, vâng sắc soạn.

Bề tôi là Nguyễn Quý Đức, Tá lý công thần, Đặc tiến Kim tử vinh Lộc đại phu, Tham tụng, Lại bộ Thượng thư, kiêm Đông các đại học sĩ, Thiếu phó, Liêm quận công, vâng sắc sửa.

Bia lập ngày mồng 2 tháng 3 niên hiệu Vĩnh Thịnh năm thứ 13 (1717).

Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân 2 người:

- Phạm Công Thiện: xã Bảo Triện, huyện Gia Định.

- Nguyễn Công Thước: xã Thượng An Quyết, huyện Từ Liêm.

Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân 17 người:

- Nguyễn Côn: xã Nguyễn Xá, huyện Thạch Thất.

- Hoàng Xuân Thi: xã Trường Cát, huyện Nam Đường.

- Nguyễn Hưng Công: xã Tiến Thành, huyện Đông Thành.

- Phạm Công Phương: xã Liêu Xuyên, huyện Đường Hào.

- Nguyễn Quang Thành: xã Thạch Cáp, huyện Sơn Vi.

- Nhữ Tiến Hiền: xã Hoạch Trạch, huyện Đường An.

- Nguyễn Công Phụ: xã Lễ Xuyên, huyện Đông Ngạn.

- Nguyễn Quang Đào: phường Quảng Bố, huyện Quảng Đức

- Thái Danh Nho: xã Hoa Phẩm, huyện Nghi xuân

- Trịnh Minh Lương: xã Chân Bái, huyện An Định.

- Đinh Đình Thuỵ: xã An Khê, huyện An khang.

- Nguyễn Tông: xã Nguyệt Viên, huyện Hoằng Hoá.

- Hà Công Luận: xã Phúc mê, huyện Thanh Lan.

- Lê Sĩ Cẩn: xã Cổ Đội, huyện Nông Cống.

- Phạm Hữu Dung: xã Ngọc Cục, huyện Đường An.

- Vũ Đình Thiều: xã Mộ Trạch, huyện Đường An.

- Nguyễn Quang Lân: xà An Lãng, huyện An Lãng.

Bề tôi là Trịnh Thế Khoa, Thư tả Công văn phiên(6), xã Hạ Thanh Oai, huyện Thanh Oai ai vâng sắc viết.


Chú thích:
(*). Nhữ Tiến Hiền: Tên khi đi thi, sau này Chúa Trịnh yêu quý đổi sang Nhữ Đình Hiền, Ông là con trai Tiến sỹ Nhữ Tiến Dụng (chú thích này của www.honhuvietnam.com)
1. Khoa Canh Thân niên hiệu Vĩnh Trị năm thứ 5: năm 1680 đời Lê Hy Tông
2. Kiến Kiện: tượng trưng sức mạnh. Lấy trong quẻ Kiến, Kinh dịch
3. Yến Quỳnh, hoa bạc: xưa kia sau khi thi Đình, các vị tân khoa được ăn tiệc tạ vườn Quỳnh Lâm và được ban hoa bạc. Trạng Nguyên hoa nặng 9 đồng cân. Bảng Nhãn hoa nặng 8 đồng cân, Tham hoa hoa nặng 7 đồng cân, Tiến sỹ xuất thân hoa nặng 6 đồng cân, Đồng tiến sỹ xuất thân hoa nặng 5 đồng cân.
4. Bính Thân: năm Bính Thân đời Quang Hưng, 1596.
5. Cẩn sự tá lang: hàm phong cho quan văn trật Tòng thất phẩm.
6. Công văn phiên: có thể là Công phiên, một trong 6 phiên ở phủ Chúa

Sưu tầm: Nhữ Đình Văn
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

GIới thiệu

BÀI 2: Tài trợ, đóng góp cho hoạt động của Hội đồng Dòng họ Nhữ Việt Nam

 > BÀI 1: TRANG TT  ĐT HỌ NHỮ VIỆT NAM      Để tạo điều kiện cho các hoạt động của Hội đồng dòng họ Nhữ Việt Nam trong các năm 2010, 2011, quí I năm 2012. Hội đồng dòng họ Nhữ Việt Nam đã nhận được sự tài trợ, đóng góp của các cá nhân,...

Đăng Nhập

Bài viết mới nhất

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HỌ NHỮ VIỆT NAM
www.honhuvietnam.com      E-mail: honhuvietnam@gmail.com

Hotline:                                Fax : +84 4 3 863 1091