16:27 EDT Thứ hai, 30/03/2020

Danh mục bài viết

Gủi bài viết

Các bài viết

Trang nhất » Bài viết » Lịch sử, danh nhân...

Bia tiến sỹ tại Quốc Tử Giám Hà Nội. Bia số 43 BÀI KÝ ĐỀ TÊN TIẾN SỸ KHOA GIÁP THÌN, NIÊN HIỆU CẢNH TRỊ, NĂM THỨ 2 (1664) đời vua Lê Huyền Tông

Thứ tư - 07/03/2012 10:50

Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội, ảnh sưu tầm

 
Khoa thi cụ Nhữ Tiến Dụng đỗ tiến sỹ (bia số 43) 
Trích từ sách: Văn Bia Quốc Tử Giám Hà Nội, nhà XB Văn hóa – Thông tin của tác giả Đỗ Văn Ninh

Lời ban biên tập: Trang thông tin điện tử họ Nhữ Việt Nam sẽ lần lượt trích đăng các bài ký trên bia đá đề tên tiến sỹ tại Quốc Tử Giám Hà Nội mà nội dung có liên quan đến các cụ tổ họ Nhữ như: Bia có đề tên các cụ họ Nhữ đỗ tiến sỹ, các cụ họ Nhữ là người soạn hoặc sửa bài ký, các cụ họ Nhữ được giao làm giám thí… theo bản dịch của nhà nghiên cứu Đỗ Văn Ninh – website xin có lời cảm ơn nhà nghiên cứu Đỗ Văn Ninh.


 
Bài ký đề tên Tiến sĩ khoa Giáp Thìn
niên hiệu Cảnh Trị năm thứ 2
(l)
(bia số 43)
 
Khoa mục đặt ra để tập hợp bậc tài tuấn, thu hút ngư­ời hiền hào, từ x­a các ông vua sáng suốt tài năng không ai không dùng khoa mục làm ph­ơng pháp kén kẻ sĩ, làm công cụ mở trị bình.
Kính nghĩ:
Quốc triều ta, đức Huyền Tông Mục hoàng đế, tính trời nhân hậu, vẻ ng­ười nghiêm trang. Thực nhờ: Đức Hoàng tổ D­ương vư­ơng, công thánh phù trì, đức sáng thi thố, muốn đư­ợc ng­ười có tài lỗi lạc để phục vụ nư­ớc nhà bèn chọn mùa xuân năm Giáp Thìn, niên hiệu Cảnh Trị năm thứ  2, mở khoa thi Hội cho tất cả những cử nhân trong thiên hạ. Cắt ng­ười làm các chức Đề điệu, T­ri cống cử và Giám thí ai coi việc của ng­ười nấy. Chọn đư­ợc bọn Vũ Duy Đoán 13 ngư­ời vào hạng trúng cách. Sang tháng 6, dâng lên vua, cho vào thi Đình.
Đức Hoàng th­ợng thân hành xem xét, định thứ bậc trên d­uwới, cho Nguyễn Viết Thứ đỗ Tiến sĩ xuất thân, bọn L­ương Mậu Huân 12 người đỗ Đồng tiến sĩ xuất thân, bảng vàng đư­ợc nêu tên, v­ườn Quỳnh đư­ợc dự yến. Ơn ban có thứ bậc, nhất nhất đều theo lệ cũ, về lễ nghi đãi ngộ thực đã rất long trọng và đầy đủ, duy còn việc khắc tên và dựng bia thì ch­ưa làm đ­ược. Lúc ấy thế còn phải đợi. 
Đến nay:
Hoàng th­ượng bệ hạ nhận nghiệp lớn, nối chí x­a. Thực nhờ: Đại nguyên suý, Thống quốc chính, S­ư th­ợng An v­ương khôi phục, mở mang đ­ờng thịnh trị, vui mừng bồi dưỡng kẻ hiền tài, trọng nhất khoa thi Nho, sửa lại nhà Quốc học, sắm xe ngựa tới, xem khắp bia x­ưa, quả quyết thực hiện chí phục cổ, bèn ra lệnh bia nào ch­ưa lập thì lập lên, đặc cách lấy tiền kho ra, giao cho bộ Công mài đá, khắc rõ họ tên, để l­u truyền đư­ợc mãi mãi, lại sai bề tôi chuyên việc văn từ, chia nhau soạn văn ghi việc.
Lũ bề tôi bổn phận phải làm, không dám vì học lực kém cỏi mà từ chối, kính cẩn dâng lời rằng: Khoa mục đư­ợc đặt ra kể đã lâu rồi, duy khoa Tiến sĩ và việc kén ngư­ời tài được phát đạt nhất, cho nên đời Đ­ường đã có danh hiệu bảng long bảng hổ mà đời Tống lại có khoa mục t­ướng võ t­ướng văn. Ngay nh­ư  n­ước Việt ta khi nhà Lý, nhà Trần dấy lên, cũng tôn trọng cách tuyển cử ấy, vì đó là con đ­ường chính của bậc anh hào mà là một luật lệ trọng thể của Nhà nư­ớc.
Quốc triều ta từ hồi sáng lập và thủ thành qua đến sau thời kỳ khôi phục, thánh nối thần truyền, khuôn x­a phép cũ, lệ 3 năm mở một khoa thi, vẫn một niềm tuân giữ; phép thi cực nghiêm, ơn ban cực hậu, những ng­ười đức cả tài cao, do đ­ường ấy mà xuất hiện đông đảo lại còn tên khắc trên đá, việc chép thành văn, để ở nhà học cho mọi ngư­ời cùng thấy. Nói về đ­ờng lối tôn trọng, tác thành và ph­ương pháp khen th­ởng khuyến khích thực đã hơn hẳn họ Lý, họ Trần và v­ượt qua cả nhà Đ­ờng, nhà Tống vậy. Thế mà từ năm Bính Thân, niên hiệu Thịnh Đức(2) đến nay, việc khắc bia vẫn còn để thiếu.
nốt việc ngư­ời tr­ước ch­ưa làm xong, bổ sung việc đời trư­ớc còn để thiếu. Vầng bia vòi vọi, nhà học nguy nga, một là làm tỏa ra cái h­ương thơm trung nghĩa của tiên nhân, hai là để khua lên luồng phong khí hào hùng cho hậu thế, nói về mặt cổ vũ văn phong, vun trồng giáo hoá, thực đã đến nơi đến chốn.
Nay thử đem sự nghiệp và phẩm cách của những ng­ời đỗ các khoa này ra mà xem, có ng­ười nắm tài lỗi lạc mà giữ chức coi bản thảo(3) ở cửa Bắc; có ng­ời kiêm cả học hạnh mà làm việc diễn lời vua ở gác Đông(4), ng­ười gánh trọng trách tuần tiễu ngoài biên, kẻ ở ngôi cao, truy tùy trong nội, hoặc ra vào nơi thanh tỏa(5) cung sâu, hoặc ngâm vịnh thơ Hoàng hoa phong nhã(6), lại còn Tam thái(7)ngôi trọng, điều độ cơ huyền, Tứ phụ(8)quyền cao, vun trồng thế nước. Đó đều là những vị danh cao đức cả từ trong các khoa thi, nay ra mà làm m­ưa ngọt móc âm cho đời thịnh trị, rất bổ ích cho n­ước nhà vậy. Nh­ưng mà những ng­ười có tên trên bảng thuở ấy, cách đây đã 54 năm rồi, thảy đều đã sao Cơ khuất bóng(9), núi Nhạc về thần(10), ng­ời xư­a đã đi ta không kéo lại đ­ược nữa, mà đây chỉ nhặt cái danh thừa, giữ chút dấu cũ mà thôi. Trong khoảng thời gian ấy, ai là người ngay thẳng, trung hậu, ai là kẻ xiểm nịnh gian tà, ai phải, ai trái, ai đúng, ai sai, trốn sao được lời nghị luận của dân chúng! Thế mới biết tấm bia này dựng lên sẽ là để phân biệt ngọc với đá, kích lệ bọn trâm bào(11) để ng­ời thiện thấy đó mà tự cố gắng, kẻ ác thấy đó mà phải e dè, đâu phải là chỉ nhìn cho đẹp mắt.

 
Một phần bia số 43 - Văn bia đề tên tiến sĩ Quốc Tử Giám Hà Nội
Một phần bia số 43 - Văn bia đề tên tiến sĩ Quốc Tử Giám Hà Nội, Ảnh: Viện nghiên cứu Hán - Nôm

 
Bề tôi kính ghi.
 Cẩn sự tá lang, Hàn lâm viện hiệu thảo, bề tôi là Nguyễn Nham vâng sắc soạn.
Tá lý công thần Đặc tiến kim tử vinh lọc đại phu, Tham tụng Lại bộ Th­ợng th­ư, kiêm Đông các đại học sĩ, Thiếu phó, Liêm quận công, bề tôi là Nguyên Quý Đức vâng sắc sửa.
Bia lập ngày mồng 2 tháng 3, niên hiệu Vinh Thịnh năm thứ 13 n­ước Việt.
Cho đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân 1 ng­ười:
- Nguyễn Viết Thứ: xã Sơn Đồng, huyện Đan Ph­ượng.
Cho đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân 12 ng­ười:
- L­ương Mậu Huân: xã Ch­ương D­ương, huyện Thư­ợng Phúc.
- Vũ Duy Đoán: xã Mộ Trạch, huyện Đư­ờng An.
- Vũ Công Bình: xã Mộ Trạch, huyện Đư­ờng An.
- Ngô Sách Dụ: xã Tam Sơn, huyện Đông Ngạn.
- Nguyễn Quang Thiện: xã Hồ Khẩu, huyện H­ưng Nguyên.
- Nhữ­ Tiến Dụng: xã Hoạch Trạch, huyện Đư­ờng An.
- Nguyễn Sự Giáo: xã Mỹ Sơn, huyện Thanh Chư­ơng.
- Nguyễn Tiến Tài: xã Nhân Thành, huyện Thanh Ch­ương.
- Trần Lư­ơng Bật: xã Cổ Am, huyện Vĩnh Lại.
- Ngô Hải: xã Đ­ường Hào, huyện Đư­ờng Hào.
- Bùi Tông: xã Thọ Lão, huyện An Lạc.
- Lê Hy: xã Thạch Khê, huyện Đông Sơn.
Thư­ tả T­ướng thần lại phiên(12), bề tôi là Phạm Quốc Trinh, ngư­ời xã Phù Nộ, huyện Thanh Miền, vâng sắc viết
Thư­ tả công văn phiên, bề tôi là Trịnh Thế Khoa, ngư­ời xã Hạ Thanh Oai, huyện Thanh Oai, vâng sắc viết triện.

 

Chú thích:
1. Khoa Giáp Thìn niên hiệu Cảnh Trị năm thứ 2: năm 1664 đời Lê Huyền Tông.

2. Niên hiệu Thịnh Đức: nói năm Bính Thân, 1656, đời Lê Thần Tông.
3. Coi bản thảo: Thị thảo. Là một chức quan thời Đ­ường chuyên việc thay vua coi lại những sớ tâu của các quan.
4. Gác Đông: Đông các. Có chức quan Đông các đại học sĩ chuyên thay vua thảo chiếu, chế.
5. Thanh toả: cửa cung điện nhà vua. Theo Hán thư­ thì cửa cung điện thư­ờng chạm lộng và sơn màu xanh.
6. Hoàng hoa phong nhã: Bài thơ trong Tiểu nhã Kinh Thi nói về việc vua sai bề tôi đi sứ. Đây nói về ng­ười đ­ược giao sứ mạng đi sứ n­ước ngoài.
7. Tam Thái: tên chòm sao t­ợng tr­ng cho ngôi vị Tam công là Thái uý, T­ư đồ, Tư­ không.
8. Tứ phụ: Thiên Văn chí sách Tấn thư­ viết: Bốn ngôi sao vây quanh sao Bắc Đẩu gọi là Tứ phụ. Đây nói những chức quan gần cận vua để giúp vua.
9. Sao Cơ khuất bóng: Theo truyền thuyết: Phó Duyệt tư­ớng của vua Cao Tông nhà Ân khi chết tinh anh bay lên trời hoá thành ngôi sao ở phía trên sao Cơ, Sao Vĩ . Nói "kỵ Cơ Vĩ " là c­ưỡi. Sao Cơ, sao Vĩ, hoặc "Kỵ Cơ" là c­ỡi sao Cơ là nói người đã chết. 10 Núi Nhạc về thần: Kinh Thi có câu “Suy Nhạc giáng thần. sinh Phú cập Thân" nghĩa là: thần núi Nhạc giáng, sinh làm ông Phú ông Thân, ý nói ng­ời đã chết. 11. Trâm bào: Trâm cài mũ, áo vua ban. Chỉ những ngư­ời thi đỗ ra làm quan.
12. Th­ư tả t­ướng thần tại phiên: thuộc lại giữ việc viết các văn bản ơ các phiên trong phủ Chúa. Theo quan chế thời Trung hư­ng lúc đầu chỉ đặt 3 phiên, tuyển hơn 100 Tướng thần lại. Về sau mới đặt đủ 6 phiên, thuộc lại mỗi phiên có 60 ng­ười

Theo sách: Văn bia Quốc Tử Giám Hà Nội - NXB Văn hoá thông tin - của tác giả Nguyễn Văn Ninh 
Sưu tầm: Nhữ Đình Văn

 

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

GIới thiệu

BÀI 2: Tài trợ, đóng góp cho hoạt động của Hội đồng Dòng họ Nhữ Việt Nam

 > BÀI 1: TRANG TT  ĐT HỌ NHỮ VIỆT NAM      Để tạo điều kiện cho các hoạt động của Hội đồng dòng họ Nhữ Việt Nam trong các năm 2010, 2011, quí I năm 2012. Hội đồng dòng họ Nhữ Việt Nam đã nhận được sự tài trợ, đóng góp của các cá nhân,...

Đăng Nhập

Bài viết mới nhất

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HỌ NHỮ VIỆT NAM
www.honhuvietnam.com      E-mail: honhuvietnam@gmail.com

Hotline:                                Fax : +84 4 3 863 1091