20:54 EST Chủ nhật, 17/11/2019

Danh mục bài viết

Gủi bài viết

Các bài viết

Trang nhất » Bài viết » Lịch sử, danh nhân...

Bia tiến sỹ tại Quốc Tử Giám Hà Nội. Bia số 3 BÀI KÝ ĐỀ TÊN TIẾN SỸ KHOA QUÝ MÙI, NIÊN HIỆU QUANG THUẬN, NĂM THỨ 4 (1463) đời vua Lê Thánh Tông

Thứ tư - 07/03/2012 10:09

Bia tiến sĩ Quốc Tử Giám Hà Nội - ảnh sưu tầm

 
Khoa thi cụ Nhữ Văn Lan đỗ tiến sỹ.
Trích từ sách: Văn Bia Quốc Tử Giám Hà Nội, nhà XB Văn hóa – Thông tin của tác giả Đỗ Văn Ninh

Lời ban biên tập: Trang thông tin điện tử họ Nhữ Việt Nam sẽ lần lượt trích đăng các bài ký trên bia đá đề tên tiến sỹ tại Quốc Tử Giám Hà Nội mà nội dung có liên quan đến các cụ tổ họ Nhữ như: Bia có đề tên các cụ họ Nhữ đỗ tiến sỹ, các cụ họ Nhữ là người soạn hoặc sửa bài ký, các cụ họ Nhữ được giao làm giám thí… theo bản dịch của nhà nghiên cứu Đỗ Văn Ninh – website xin có lời cảm ơn nhà nghiên cứu Đỗ Văn Ninh.


 
Bia số 3: BÀI KÝ ĐỀ TÊN TIẾN SỸ KHOA QUÝ MÙI,
NIÊN HIỆU QUANG THUẬN, NĂM THỨ 4 (1463) đời vua Lê Thánh Tông

 
 Đức Thánh thiên tử lên ngôi báu đến năm thứ tư, văn vận sáng như sao Khuê(1) người tài đông như mây họp. Lúc ấy gặp kỳ thi, kẻ sĩ hát bài Lộc Minh(2) mà kéo đến nhiều tới hơn một nghìn bốn trăm người thi tài đấu nghệ trong trường xuân vi. Lựa chọn người giỏi được 44 người. Ngày 16 tháng 2, vua ngự ra điện ngoài ra đề hỏi về việc trị nước của các bậc đế vương. Sai bề tôi là Nguyễn Lai, Kiểm hiệu Tư đồ Bình chương sự(3). bề tôi Lê Niệm, Đô đốc Đồng binh chương sự Tri Đông đạo chư vệ quân, Đề điệu Quốc Tử Giám(4) cùng trông coi công việc. Sáng hôm sau bề tôi Nguyễn Như Đổ, Môn hạ sảnh Tả ty, Tả gián nghị đại phu Tri Bắc đạo quân dân bạ tịch(5), kiêm Hàn lâm viện Thừa chỉ học sĩ tri Đông đạo quân dân bạ tịch; bề tôi Nguyên Vĩnh Tích, Hàn Lâm viện Thừa chỉ học sĩ tri Đông đạo quân dân bạ tịch(6); bề tôi Nguyễn Bá Ký, Quốc Tử Giám Tế Tửu, đem quyển dâng đọc. Vua xem xong quyết định thứ bậc, cho bọn Lương Thế Vinh trở xuống đỗ Tiến sĩ cập đệ và Tiến sĩ xuất thân.
   Ngày 22, vua ngự điện Kính Thiên. Loa truyền việc thi đã xong. Lễ quan mang bảng vàng yết ngoài của Đông Hoa cho sĩ tử xem. Lại ban mũ áo yến tiệc để tỏ lòng ưu đãi. Ân huệ thật là đồi dào. Thế nhưng bia đề tên thi vẫn chưa làm. Đến nay đã 22 năm, điển lệ thật vẫn còn thiếu sót. Đức Hoàng thượng hết sức nghĩ rằng người tài là nguyên khí của nước nhà, không thể không vun trồng rộng khắp, chế độ là phép hay của nước nhà không thể không làm cho rõ ràng. Bèn sai Đông quan khắc đá đề tên đựng ở nhà Thái Học, sai bề tôi Đào Cứ soạn bài ký. 
  Bề tôi kính vâng mệnh sáng, không đám vì kém cỏi mà chối từ, xin chắp tay cúi đầu mà dâng lời rằng: Chân nguyên(7) hội họp rồi người tài thiên hạ mới nảy sinh, chân chúa dấy lên rồi người tài thiên hạ mới dùng hết. Cử bậc nguyên khôi, hỏi quan nhạc mục, là cách dùng người hiền của đời Đường, Ngu(8) cất nhắc người hiền năng, thăng chức kẻ tuấn kiệt là cách dùng người tài của Thành Chu(9). Cho nên phong tục thuần hậu, trị dân yên thịnh. Xem vậy phép trị nước phải lấy việc cử người tài, dùng người hiền làm gốc vậy.
   Lớn lao thay ! Đức Thái tổ Cao hoàng đế triều ta sửa sang võ công, rộng tìm văn đức, chưa kịp xếp binh đao đã mở hội cầu hiền, sửa sang nền đạo đức, cổ vũ lòng dân, quy mô thực xa rộng vậy.
   Đức Thái Tông Văn Hoàng đế mở rộng quy mô, thu thập anh hùng, đặt khoa cử để lấy người giỏi, tìm kẻ chân Nho để giúp việc bình trị thành công, thật vô cùng rực rỡ vậy. Đức Nhân Tông Hoàng đế theo khuôn phép cũ nối Võ nêu Văn(10), lấy đạo Nho tô điểm cho việc trị bình, đem nhân hậu mà bồi bổ cho quốc mạch(11). Cách thi chọn kẻ sĩ thảy đều kính theo phép cũ. Nay Hoàng thượng (Lê Thánh Tông) làm sáng thêm cơ đồ, gánh vác mệnh lớn, tiếng nhân nghĩa vang lừng bờ cõi, văn trị võ công rỡ ràng sau  trước. Nền giáo hoá đến thế là rực rỡ, nguyên khí đến thế là cao dày. Mênh mông thay ! Văn giáo lan ra rộng khắp; Bừng bừng thay ! Nho phong phấn chấn chứa chan, cho nên người tài nẩy sinh hàng loạt đông đảo, dập dìu. Phàm là ai, dù vẫy vùng trên khoảng trời diều liệng, hoặc quẩn quanh dưới mảnh đất kiến đùn, chẳng ai không vui sướng như chim bằng tung cánh, phấn chấn như báo đổi lốt(12) để được cái may ra mắt giữa thịnh thời.
   Lại như khoa này, thực là trung hưng bậc nhất. Lấy được nhiều người giỏi, sáng lạng hơn đời trước. Nhiều người được dùng, la liệt trong kinh ngoài trấn. Người chấn hưng lễ nhạc giữ việc văn từ đông như cá nối đuôi, như ve liền cánh. Người nhậm chức Phiên tuyên, Thú lệnh(13) nhiều tới chen vai nối gót. Qủe Thái nói : "nhổ khóm cỏ tranh kéo theo cả bụi"(14), cảnh nhà Chu "hiền sĩ đông đúc, tuỳ vua dùng"(15) đều là chung một điều thịnh vượng. Có lẽ là điềm hay của văn minh muôn thủa mà trời đã dành cho vua ta đó. Cho nên ngày nay chế độ văn vật rành mạch sáng ngời, khắc vào bia đá dựng tại nhà Quốc học, phần là để thực hành điển lệ long trọng của triều đình, phần là để gây lạc quan cho kẻ sĩ, soi tỏ mai sau bao hàm khích lệ. Kẻ sĩ mong được khắc tên lên bia đá này tất phải làm sao cho "danh" xứng với "thực", sửa đức hạnh, yên phận mình, bắt chước Văn Hiến giữ lòng(16), đừng theo lòng quay quắt của Công Tôn(17). Đức thanh liêm phải như Triệu Duyệt Đạo18) tính cương trực phải như Phạm Cảnh Nhân (19). Người ở chức Thị tụng thì phải nghĩ sao để dâng được mưu hay. Người nắm việc kỷ cương thì nghĩ sao khiến chính sự trong sạch. Người cai trị địa phương thì lo sao làm tỏ đức vua mà thấu tình dân. Người giữ quyền chăn dân thì lo sao cho đủ dân sinh mà bền gốc nước, Ngõ hầu trên không phụ ý tất của triều đình ban khen, dưới không phụ chí cả phò vua giúp dân thường ngày ôm ấp, để tiếng khen mãi mãi, danh thơm không cùng, khiến người đời sau xem bia đá này chỉ tên mà nói: người này tận trung với nước, người này để ơn cho dân, người này đạo ngay nghĩa thẳng, người này giữ đức lập công. Thật vinh hạnh vậy. Nếu không thì người ta sẽ trông vào mà nói: đồ gian tà, tuồng phụ bạc, quân hèn nhát. Công luận còn rõ ràng há không thận trọng được ru !
   Thế mới biết, Thánh thiên tử khen thưởng thật sâu xa, trông mong hết mực, mến chuộng khuyến khích hơn cả xưa nay, vì muốn được bậc chân Nho giúp nền bình trị, lưu truyền mưu hay cho con cháu mai sau. Vậy thì việc khắc đá đề tên không chỉ là việc hay cho đất nước ức muôn năm không cùng, mà còn là điều phúc cho con thánh cháu thần ức muôn năm không cùng.

 

Bia số 3 - Văn bia đề tên tiến sĩ - Quốc Tử Giám Hà Nội. Ảnh: Viện nghiên cứu Hán - Nôm
  Bề tôi kính ghi.
Bề tôi, Hiển cung đại phu, Hàn lâm viện Thị giảng, Đông các Hiệu thư(20) Đào cử Vâng sắc soạn.
Bề tôi, Cẩn sự lang, Trung thư giám chính tự(21) Nguyễn Tủng vâng sắc viết.
Bề tôi, Mậu lâm lang Kim Quang môn đãi chiếu(22) Tô Ngại vâng sắc viết triện.
Bia lập ngày 15 tháng 8, niên hiệu Hồng Đức, năm thứ 15(24) nước việt.
Cho đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ 3 người :
- Lương Thế Vinh : huyện Thiên Bản, phủ Nghĩa Hưng.
- Nguyễn Đức Trinh : huyện Thanh Lâm, phủ Nam Sách.
- Quách Đình Bảo : huyện Thanh Lan, phủ Tân Hưng.
Cho đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân 15 người:
- Phạm Lỗ: huyện Đường An, phủ Thượng Hồng.
- Nguyễn Tài: huyện Tứ Kỳ, phủ Hạ Hồng.
- Dương Văn Đán: huyện Đông Ngạn, phủ Từ Sơn.
- Nguyễn Tường: huyện Tân Phong, phủ Tam Đái.
- Lê Đình Tuấn: huyện Tế Giang, phủ Thuận An.
- Đào Bạt: huyện Bình Hà, phủ Nam Sách.
- Đỗ Hân: huyện Thanh Miện, phủ Hạ Hồng.
- Phạm Ngữ: huyện Nghi Xuân, phủ Đức Quang.
- Nguyễn Ký: huyện Chí Linh, phủ Nam Sách.
- Vũ Như Nhuệ: huyện Thanh Lâm, phủ Nam Sách.
- Hoàng Bồi: huyện Phúc Lộc, phủ Quốc Oai.
- Đình Thúc Thông: huyện Gia Viễn, phủ Trường An.
- Vũ Hữu: huyện Đường An, phủ Thượng Hồng.
- Nguyễn Đình Liêu: huyện Đông Ngạn, phủ Từ Sơn.
- Lưu Công Ngạn: huyện Thuỷ Đường, phủ Kinh Môn.
Cho đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân 26 người:
- Nguyễn Đình Khôi: huyện Quế Dương, phủ Từ Sơn.
- Nguyễn Tông Tây: huyện Thiện Lộc, phủ Đức Quang.
- Phạm Tử Nghi: huyện Thanh Oai, phủ ứng Thiên.
- Nguyễn Bá Kỳ: huyện Chương Đức, phủ ứng Thiên.
- Chu Lộc: huyện Đường An, phủ Thượng Hồng.
- Đỗ Bá Lược: huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai.
- Đào Bảo: huyện Phù Vân, phủ Thường Tín.
- Phạm Bá Ký: huyện Thanh Oai, phủ ứng Thiên.
- Trần Văn Thiện: huyện Đông sơn, phủ....
- Nguyễn Xuân Dương: huyện Hoàng Hoá, phủ Hà Trung.
- Phạm Lương: huyện Tiên Du, phủ Từ Sơn.
- Đào Tuấn Khanh: huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín.
- Nguyễn Tông: huyện Thanh Oai, phủ Ứng Thiên.
- Đào Văn Hiến: huyện Tứ Kỳ, phủ Hạ Hồng.
- Lê Nghĩa: huyện Bình Hà, phủ Nam Sách.
- Phạm Nại: huyện Chương Đức, phủ Ứng Thiên.
- Nguyễn Cấu: huyện Tân Phúc, phủ Bắc Giang.
- Cái Phùng: huyện Thiên Thi, phủ Khoái Châu.
- Phạm Phổ: huyện Bình Lục, phủ Lý Nhân.
- Dương Đức Nhạn: huyện Vĩnh Lại, phủ Hạ Hồng.
- Nguyễn Công Định: huyện Thanh Lan, phủ Tân Hưng.
- Hạ Cảnh Đức: huyện Yên Lạc, phủ Tam Đái.
- Nhữ Văn Lan: huyện Tân Minh, phủ Nam Sách.
-Nguyên Cự Trung: huyện Cẩm Giàng, phủ Thượng Hồng.
- Nguyễn Văn Chính: huyện Đông An, phủ Khoái Châu.
- Nguyễn Như Trác: huyện Kim Thành, phủ Kinh Môn

Chú thích:
1. Sao Khuê: ngôi sao chủ về văn học.
2. Lộc minh: bài hát khi vua ban yến. Xưa kia khi có khoa thi
Đình, nhà vua ban yến cho các quan trường và người thi đỗ. Người ta gọi tiệc đó là tiệc Lộc minh.
3. Kiểm hiệu tư đồ Bình chương sự: Kiểm hiệu là chức quan được phái đi làm một việc nào đó, một loại nhiệm dụng không chính thức, bắt đầu có từ thời Nam Bắc triều. Năm 973 vua Tống phong cho Đinh Liễn làm Kiểm hiệu Thái sư Tĩch hải quân, Tiết độ sứ An Nam đô hộ. Thời Lý, Tô Hiến Thành cũng được phong Nhập nội Kiểm hiệu Thái phó Bình chương quân quốc trọng sự. Thời Lê cũng có chức Kiểm hiệu.
Quan chế Bảo Thái có chức Tôn nhân phủ Kiểm hiệu là chức quan nhỏ trật Chánh cửu phẩm Tư đồ là chức quan giữ việc giáo hoá nhân dân xuất hiện từ sách "Thượng thư, Nghiên điển". Tới thời Đường. Tống chỉ còn là gia hàm không có thực quyền.
Thời Trần nước ta đặt làm hàm đại thần hàng Tể tướng.
Quan chế thời Lê, lúc đầu, mô phỏng nhà Trần đặt Tư đồ, Tư mã, Tư không hợp xưng Tam tư chỉ phong cho các quan thân thuộc và có công. Lê Thánh Tông định quan chế bỏ Tam tư. Về sau lại đặt nhưng chỉ là gia hàm.
 
Bình chương sự là chức quan bậc Tể tướng có từ thời Lý, thời Trần. Đầu thời Lê vẫn đặt, tới Lê Thánh Tông định quan chế bãi bỏ, Lê Chiêu Thống lại khôi phục nhưng nhà Lê đã suy nên chẳng tồn tại bao lâu.
4. Đô đốc Đồng bình chương sự Tri Đông đạo chư vệ quân:
Đô đốc là chức võ quan. Đầu thời Lê, chức Đô đốc đứng đầu võ ban, thường cũng kiêm Tể tướng. Đồng bình chương sự là chức tá nhị của Bình chương sự.
Tri Đông đạo chư vệ quân là chức chỉ huy các vệ quân thuộc Đông đạo.
5. Môn hạ sảnh Tả ty Tả gián nghị đại phu:
Môn hạ sảnh là cơ quan nhận sớ tấu, thẩm định sớ tấu, sau khi vua phê chuẩn thì chia cho các cơ quan hữu quan thi hành.
Đầu thời Lê đặt Môn hạ sảnh phỏng theo nhà Trần, chia ra Tả ty và Hữu ty, đứng đầu là Tri ty sự, dưới có Thị lang.
Gián nghị đại phu là chức quan có quyền nghị luận việc đúng sai. khuyên bảo được mất với nhà vua. Có khi lập 2 người Tả, Hữu gián nghị đại phu ở 2 ty Tả, Hữu.
6. Tri Đông đạo quân dân bạ tịch:
Khi Lê Thái tổ tiến quân đến Đông Đô, chia các lộ ở Đông Đô làm 4 đạo do Tổng tri làm chánh, chức phó kiêm Tri quân dân bạ tịch.
7. Chân nguyên: như nguyên khí
8. Đường Ngu: Đường Nghiên (2357-2258 Trước Công nguyên), Ngu Thuần (2258-2208 Trước Công nguyên) là 2 đời thịnh trị của Trung Quốc.
9. Thành Chu: Thành là tên ấp nơi nhà Chu đóng đô, Chu là một triều đại cổ của Trung Quốc (l 122-247 Tr.CN).
10. Nối Võ nêu Văn: Nguyên văn chữ Hán trong bia là “Thừa liệt hiển mô”. Bốn chữ này lấy trong câu “Phi hiển tai Văn vương mô, phi thừa tai Võ vương liệt” nghĩa là : rực rỡ thay nền võ công của Võ vương (Kinh thư); Ở đây muốn ví Nhân Tông với Văn Vương, Võ Vương của Trung Quốc.
11. Quốc mạch: như mệnh mạch
12. Báo đổi lốt: nguyên văn là “Báo biến” Kinh dịch có câu “Quân tử báo biến” nghĩa là: người quân tử đổi thay như báo đổi lốt.
13. Phiên tuyên, thú lệnh: Quan coi các tỉnh là Phiên tuyên, quan coi phủ huyện là Thú lệnh.
14. Nhổ khóm cỏ tranh kéo theo cả bụi: nguyên văn là “bạt mao liên như”, ý nói lấy được nhiều người giỏi như nhổ cỏ lên cả bụi.
15. Hiền sĩ đông đúc tuỳ vua dùng: nguyên văn là : “Tế tế vương đa cát sĩ, duy quân tử sử” (Kinh thi)
16. Văn Hiến: quan Giám sát ngự sử Tuần án Bắc Trực, Vân Nam, Hồ Nam, thời nhà Minh là Văn Hiến nổi tiếng liêm trực.
17. Công Tôn: Công Tôn Hoằng thời Minh Vũ đế. Học rộng, giữ chức Văn học bác sĩ nhưng lòng dạ nham hiểm. Bề ngoài hoà nhã nhưng trong lòng luôn tìm cách hãm hại người không đồng ý với mình. Chu Phụ Yểm bị giết, Đồng Trọng Thư bị đày đi Giao Tây đều do Hoằng chủ mưu.
18. Triệu Duyệt Đạo: Ngự sử đời Tống đã dám vạch tội cả người quyền quý, Người đương thời gọi ông là “Ngự sử mặt sắt”.
29. Phạm Cảnh Nhân: Trạng Nguyên đời Tống, có lời thỉnh cầu vua và kiên nhẫn đợi cho tới bạc đầu.
20. Hiển cung đại phu, Hàn lâm viện thị giảng, Đông các Hiệu thư:
Hiển cung đại phu là vinh hàm phong cho các quan Tòng ngũ phẩm.
Hàn lâm viện thị giảng là chức quan trong Hàn lâm viện chuyên giữ việc giảng đọc Kinh sử, giảng giải Kinh nghĩa, cố vấn cho Hoàng đế Trật Tòng ngũ phẩm.
Đông các Hiệu thư: chức quan giữ việc hiệu lý thư tịch trong Đông các, trật Chánh lục phẩm, thấp hơn Hàn lâm viện thị giảng. Ớ đây chắc là Đào Cử làm 2 việc nhưng phẩm trật tất lấy bậc cao nhất.
21. Cẩn sự lang, Trung thư giám chính tự:
Cẩn sự lang là vinh hàm phong cho các quan trật Chánh thất phẩm. Chính tự là chức quan dạy học cho Hoàng tử, hoàng thân đặt trong Trung thư giám. Quan chế Bảo Thái cho trật Chánh thất phẩm.
22. Mậu tâm lang kim quang môn đãi chiếu.
23. Niên hiệu Hồng Đức năm thưa 15.

Theo sách: Văn bia Quốc Tử Giám Hà Nội - NXB Văn hoá thông tin - của tác giả Nguyễn Văn Ninh 
Sưu tầm: Nhữ Đình Văn
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

GIới thiệu

BÀI 1: Trang thông tin điện tử HỌ NHỮ VIỆT NAM - Website www.honhuvietnam.com

>BÀI 2: TÀI TRỢ, ĐÓNG GÓP CHO HOẠT ĐỘNG CUẢ HỘI ĐỒNG DÒNG HỌ   Hà Nội, Ngày 01/03/2012 Kính chào các bạn đọc ! Trang Thông tin điện tử Họ Nhữ Việt Nam www.honhuvietnam.com, (.org) do Hội Đồng dòng họ Nhữ Việt Nam quản trị và điều hành. Việc xây dựng và phát triển...

Đăng Nhập

Bài viết mới nhất

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HỌ NHỮ VIỆT NAM
www.honhuvietnam.com      E-mail: honhuvietnam@gmail.com

Hotline:                                Fax : +84 4 3 863 1091