00:03 EDT Thứ tư, 15/07/2020

Danh mục bài viết

Gủi bài viết

Các bài viết

Trang nhất » Bài viết » Lịch sử, danh nhân...

BIA THỜ THẤY NHỮ ĐẠM TRAI - Nhữ Bá Sỹ

Thứ tư - 22/01/2020 00:30
    (Cổng thông tin điện tử Họ Nhữ Việt Nam đăng bản dịch Bia thờ Cử Nhân Nhữ Bá Sỹ (1787 - 1867) - Bia do học trò của Nhữ Bá Sỹ soạn để ghi công đức của Thầy(*)
    Quê thấy ở Cát Giang(1), họ Nhữ, một họ lớn trong vùng, xưa có Ông Thận Chiết làm Huyện Thừa, Ông Đôn Hòa làm chị bạ. Đời đời chăm làm việc thiện, chưa hiển đạt đường vẫn chương. Chi thấy rất chuộng việc học, đã bán cả ruộng vườn để lo đèn sách cho các con. Người thường thói: "Xưa bao người không ruộng, chỉ sống bằng chiếc nghiên mực vỡ , dừng lo chữ không nấu ăn được".
    Theo lời cha dạy, thầy chăm học từ nhỏ, trừ lúc bệnh nặng, tay không khi nào rời sách. Khi đọc suy xa, nghĩ kỹ tinh lực dồn hết vào trang sách trẻ nhỏ nghịch bên hoặc việc khác thường trước mặt đều không hay biết. Ngoài các sách kinh, sử thì nào thiên văn, địa lý, luật, lịch, đồ bản đến sách thuốc, sách bói, thấy đều xem khắp. Việc dạy hai em Thiệu Trai, Hòe Trai(2) càngcông phu khó nhọc. Hai ông đều đậu cử nhân khoa Kỷ Mão và Ất Dậu(3). Năm Tân Tỵ thầy đậu thi hương, năm sau Nhâm Ngọ đậu tiến sĩ á tuyển. Vậy là cả ba anh em lần lượt nổi danh khoa giáp, họ Nhữ trở nên tiếng tăm. Cha mẹ thấy được đến đáp công lao vậy!
    Năm Đinh Hợi đời Minh Mạng(4), Thầy làm chi huyện Tiên Lữ rồi thăng Lang trung được 5 năm, vừa phải đi Quảng Ngãi, khi xem xét việc công thiếu sót vua phê: "Viên quan này Trẫm vốn biết từ trước đội ơn vua giảm nhẹ cho đi hiệu phái sang Quảng Đông - Trung Quốc cùng ông Lý Văn Phức, Lê Khiêm, Hoàng Quýnh. Đương lúc vấp trước ngã sau lênh đênh giữa biển trời sóng to, gió giữ, ngày lùi tháng lại chen chúc giữa chốn buôn lường bán gạt ai mà chả ngả lòng trong cảnh oan khuấn khốn cùng, thế mà thấy chí càng vững, tài càng chín, tấc dạ không lúc nào quên việc báo đền. Khi việc công dỗi dãi thầy cùng ông Bục Liên Tiên người xứ Tiên đường lập hội Trung Ngoại Quận Anh(5) phất cờ gióng trống lừng tiếng miền Bắc Thành Ngũ Dương. Trong các bài thơ xướng họa tuyệt không thấy cái buồn của người anh hùng lỡ bước, trái lại lúc này thơ văn cànghay hơn nhiều. Ở Quảng Đông về thầy được phục chức bổ huấn đạo huyện An Lão, quyền đốc học Sơn Tây thăng giao thụ phổ Hoài Đức, quyền chi huyện Ứng
Hòa rồi thầy xin nghỉ.
    Triều đình các viện, sử quán ba lần tiến cử thây đều lấy cớ có bệnh để được miễn chỉ mong hưởng trăng hóng gió thảnh thơi ở trường học Nghi am của mình lấy làm thích thú mà thôi.
    Thầy viết nhiều sách: Dịch học giải thuyết, Thái cực đổ thuyết, Thanh hóa tỉnh chí, Nghi Am Biệt Lục... tất cả 17 bộ, khi cánh chim bay mỏi, nghiện ngầm lí số để hết tâm lực mà có.
Học trò của Thầy rất đông, nổi tiếng nhất có các vị: Thám hoa Mai AnhTuấn(6), ánh sát Lạng Sơn, bảng nhãn Phạm Thanh làm tham chi bộ lại, Trưng quân cử nhân Đỗ Xuân Cát... số thành đạt rất nhiều. Năm Dực Tông anh Hoàng Đế(7) triều ta mới lên ngôi xuống chiếu cử Thấy làm đốc học Thanh Hóa được ít lâu thầy lại cáo lão về nghỉ. Thầy dâng sớ mấy vạn chữ(8), vua cho phép các quan mấy tỉnh Thanh Nghệ, Thượng Nghị làm thử. Khi đó Thầy gần 80 tuổi, nhà vua rất tiếc tài học tuổi cao của thầy không kịp dùng cho việc lớn. Xưa Hàn Xương Lê có nhận định về Liễu Tử Hậu: "Tử Hậu bị đầy ải nhưng không lâu, khốn cùng nhưng không tột ngách, nếu không như vậy sẽ không phát triển hết tài văn học để truyền lại cho đời sau đó là lời nhận định rất hay về Tử Hậu, Thầy Đạm Trai nếu tài học được trọng dụng sớm thì sao mà có được mười mấy bộ sách con cháu cất làm của quý, nhiều người ngẫm lòng? Sao có được các vị họ Mai, họ Phạm kiệt xuất một thời giúp việc cho nước? Sao mãi đến nay ở Thanh Hóa đất nhà vua, sĩ phu đông đảo hết lòng hâm mộ tổn thấy làm khuôn mẫu đời đời, xem thế thì biết Thấy nào phải không gặp thời đâu.
    Hai con trai Thầy lần lượt đậu cử nhân(9) và giờ đây cháu nội Duy Cơ(10) lại làm rạng rỡ cho gia tộc, đúng là công đức giáo hóa của thầy để lại vậy!
    Tôi: Hoàng Vỹ(11) muộn lắm mới đến học của thầy, nay may mắn giữ chức Thượng thư Bộ lễ, gặp Duy Cơ nơi công đường, tìm biết sự trạng của thầy xin kính cần ghi khắc vào bia mong tỏ chút lòng ngóng trông núi cao đạo cả.
    Học trò: Hoàng Vỹ, tự Tử Minh, giữ chức Thái Tử, Thái Phó, Hiệp Biện Đại học sĩ, Thượng thư bộ lễ, xung cơ mật viện đại thần bái soạn, năm Thành Thái Mậu Tuất (1898), cuối mùa hạ trung tuần.
     Hoàng Trọng Đài(12) giữ chức chi huyện Đông Sơn khắc (1916), năm Khải Định, Bính Thìn đầu mùa hạ
    Lê Văn Uông phụng dịch trung tuần tháng 6/1985.
Chú thích:
(*) Bản dịch bia do ông Nhữ Văn Quế - họ Nhữ Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa cung cấp.
1- Tức làng Cát Xuyên, nay thuộc xã Hoằng Cát, huyện Hoằng Hóa
2- Thiệu Trai, tức Nhữ Đình An; Hòe Trai thức Nhữ Đình Tố
3- Khoa Kỷ Mão (1819), Tân Tị (1821), Ất Dậu (1825), triều vua Minh Mạng
4- Đinh Hợi triều Minh Mạng tức năm 1827
5- Hình thức câu lạc bộ văn thơ giữa các học giả Trung Quốc và các nước sử dụng chữ Hán
6- Mai Anh Tuấn quê huyện Nga Sơn. Phạm Thanh quê Trung Xá, huyện Hậu Lộc, học vị cao nhất triều Nguyễn, là con rể Đạm Trai. Đỗ Xuân Cát cử nhân cùng làng.
7- Tức vua Tự Đức
8- Sớ bàn kế chấp pháp
9- Nhữ Dĩ Huyến và Nhữ Mộc Đạo
10- Duy Cơ cháu đích tôn Nhữ Bá Sĩ đậu cử nhân, học trường hậu bổ
11- Hoàng Vỹ: quê La Châu, tỉnh Quảng Bình
12-  Hoàng Trọng Đài (hoặc Nhất) là con Hoàng Vỹ khắc bia cung tiến.
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

GIới thiệu

Bài 3: LỜI CẢM ƠN

    LỜI CẢM ƠN   Để đáp ứng cho các  hoạt động của Hội đồng dòng họ Nhữ Việt Nam như: - Thăm viếng “vấn Tổ, tìm Tông”, giao lưu  giữa Hội đồng dòng họ Nhữ Việt Nam với các địa phương, tìm hiểu truyền thống, cội nguồn để viết bài giới thiệu về họ Nhữ các nơi; - Duy...

Đăng Nhập

Bài viết mới nhất

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HỌ NHỮ VIỆT NAM
www.honhuvietnam.com      E-mail: honhuvietnam@gmail.com

Hotline:                                Fax : +84 4 3 863 1091