11:23 EST Thứ sáu, 22/11/2019

Danh mục bài viết

Gủi bài viết

Các bài viết

Trang nhất » Bài viết » Hồn Việt

Sự tích về những người được phong làm Trạng xứ Đông

Thứ hai - 26/11/2012 01:05

Tuy không đỗ Trạng nguyên mà chỉ đỗ Tiến sĩ, nhưng vì khâm phục tài năng, đức độ của họ mà người dân vẫn “phong” là Trạng.


Bia Văn chỉ huyện Đường An (tại thôn Hoạch Trạch, xã Thái học, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương), dựng năm 1844, Ghi danh 108 vị Tiên Hiền huyện Bình Giang, trong đó có Hoàng Giáp Vũ Hữu (Trạng toán), Hoàng Giáp Vũ Quỳnh (Trạng Chằm), Hoàng Giáp Vũ Tụ (Trạng Liêm), Hoàng Giám Lê Tư (Trạng Chữ), Tiến Sĩ Vũ Huyên (Trạng Cờ).

Dưới đây là đôi nét về các ông Trạng dân phong:

Trạng Toán: Vũ Hữu người làng Mộ Trạch, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, thừa tuyên Hải Dương (nay thuộc xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, Hải Dương) đỗ Hoàng giáp khoa Quý Mùi (1463) đời Lê Thánh Tông, làm quan đến chức Thượng thư bộ Lễ, tước Tùng Dương hầu.

Trong lịch sử toán học nước ta, Vũ Hữu cùng với Lương Thế Vinh được coi là bậc kỳ tài, công trình toán học nổi bật của ông là cuốn “Lập thành toán pháp” chỉ dẫn phương pháp chia, tính ruộng đất, cách đo đạc, xây dựng nhà cửa, thành lũy.

Câu chuyện nổi tiếng nhất về ông là việc tính toán vật liệu dùng để sửa chữa 3 cửa Đoan Môn, Đông Hoa và Đại Hưng của kinh đô Thăng Long không thừa, không thiếu một viên gạch. Vua Lê Thánh Tông rất kinh ngạc khen Vũ Hữu là Thần Toán và ban thưởng 100 mẫu ruộng lộc điền, còn người đời gọi ông là Trạng Toán.

Trạng Chằm: Vũ Quỳnh quê làng Mộ Trạch, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, thừa tuyên Hải Dương (nay thuộc xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, Hải Dương) đỗ Hoàng giáp khoa Mậu Thìn (1478) đời Lê Thánh Tông, làm quan đến chức Thượng thư bộ Lễ, bộ Công, bộ Binh kiêm Tổng tài sử quán, Tư nghiệp Quốc Tử Giám.

Ông là người học rộng, kiến thức uyên bác, tác phẩm lớn nhất của ông là bộ “Đại Việt thông giám thông khảo” gồm 26 quyển và cuốn “Tân đính Lĩnh Nam chích quái”.

Khâm phục tài năng, đức độ của Vũ Quỳnh và do làng Mộ Trạch có tên Nôm là làng Chằm nên dân gian gọi ông là Trạng Chằm (Trạng làng Chằm). Vũ Quỳnh chính là con trai của Trạng Toán Vũ Hữu và là bố vợ của trạng nguyên Lê Nại (người có biệt danh là Trạng Ăn).

Trạng Liêm: Vũ Tụ người làng Hoạch Trạch, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, thừa tuyên Hải Dương (này thuộc xã Thái Học, huyện Bình Giang, Hải Dương) đỗ Hoàng giáp khoa Quý Sửu (1493) đời Lê Thánh Tông, làm quan đến chức Tả thị lang bộ Hình, nổi tiếng là người liêm khiết, trong sạch và cần kiệm.

Vua Lê Thánh Tông đã đặc ban cho ông 2 chữ “Liêm khiết”, mỗi khi vào chầu thì gắn tấm vải thêu 2 chữ đó lên cổ áo để nêu điểm khác người. Đương thời rất kính trọng gọi ông là Trạng Liêm (Trạng liêm khiết).

Trạng Cầu: Đinh Lưu người làng An Dật, huyện Thanh Lâm, phủ Thượng Hồng, thừa tuyên Hải Dương (nay thuộc xã Thái Tân, huyện Nam Sách, Hải Dương) đỗ Thám hoa khoa Bính Thìn (1496) đời Lê Thánh Tông, khi đó ông mới 17 tuổi, sau làm quan đến chức Đông các đại học sĩ.

Ngoài tài văn thơ, ông còn là người giỏi cưỡi ngựa, bắn cung, nhất là giỏi đá cầu và từng đá cầu chúc thọ vua Lê Hiến Tông. Dân gian khen ngợi Đinh Lưu là bậc kỳ tài đá cầu lại là người có dũng khí và tự tin nên tôn ông là Trạng Cầu.

Người ta còn truyền tụng rằng, mộ tổ nhà ông nằm ở một quả núi tròn trông giống như quả cầu nên Đinh Lưu mới có biệt tài như vậy.

Trạng Chữ: Lê Tư (có tên khác là Lê Tài) người làng Mộ Trạch, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, thừa tuyên Hải Dương (nay thuộc xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, Hải Dương) đỗ Hoàng giáp khoa thi năm Tân Mùi (1511) đời Lê Tương Dực.

Khi chưa đỗ, có lần lên kinh đô thăm anh là Trạng nguyên Lê Nại, ông nói với các sĩ tử rằng:  Ta đây là bồ chữ, các anh muốn hỏi chữ gì, sách gì thì lại đây ta sẽ chỉ cho. Mọi người rủ nhau đến hỏi kinh sách, hỏi gì đáp nấy, giảng giải tinh tường khiến ai cũng nể phục.

Sau này Lê Tư làm quan đến chức Lại bộ đoán sự trung, dân gian phục tài năng của ông nên gọi là Trạng Chữ.

Nhà nghèo không đủ ăn nên Lê Như Hổ ở rể một nhà giàu có, mỗi bữa ông ăn hết nồi cơm thổi 16 đấu gạo, ăn càng nhiều học càng chăm. Khoa thi năm Tân Sửu (1541) đời Mạc Hiến Tông, ông  đỗ Tam giáp tiến sĩ, sau làm quan đến chức Thượng thư bộ Binh.

Có nhiều giai thoại về tài ăn khỏe của ông như lần đãi một người bạn 2 mâm cỗ lớn với 4 con lợn béo, 4 chõ xôi to nhưng bạn chỉ ăn được một phần nhỏ còn Lê Như Hổ dùng hết mâm của mình rồi chuyển sang ăn hết mâm kia.

Đi sứ phương Bắc, ông đánh chén tì tì hết sạch mâm cỗ cao 18 tầng khiến vua quan nhà Minh trố mắt, kinh ngạc. Trong chuyến đi sứ này, Lê Như Hổ học được nghề làm dù đem về truyền lại cho dân, vì thế về sau được tôn làm Tổ sư nghề làm dù nước ta. Dân gian kính phục gọi ông là Trạng Ăn.

Trạng Vật: Nguyễn Doãn Khâm người làng Kiệt Đặc, huyện Chí Linh, phủ Nam Sách, xứ Hải Dương (nay thuộc xã Văn An, huyện Chí Linh, Hải Dương) đỗ Hoàng giáp khoa Kỷ Mùi (1559) đời Mạc Tuyên Tông, làm quan đến chức Thượng thư kiêm Đô Ngự sử.

Ông là người có sức khỏe, thân hình vạm vỡ, lực lưỡng. Tương truyền tay dài quá gối, đấu vật thì ít ai địch nổi, vì thế lúc làm quan trong triều ngay cả các đô lực sĩ của vua cũng không mấy người dám đọ sức cùng ông.

Một lần trên đường về quê, đi qua một sới vật ở làng Giao Tất (nay thuộc Gia Lâm, Hà Nội) nghe nói có đô vật đã giữ giải 3 ngày mà chưa ai thắng nổi, Nguyễn Doãn Khâm cởi bỏ quan phục vào sới tỉ thí, chẳng mấy chốc đã lựa thế quật ngã đô vật kia, mọi người đến trao giải nhưng ông không nhận mà chỉ xưng tên họ, chức vụ rồi lên ngựa đi thẳng. Chính bởi tài đấu vật mà dân gian gọi ông là Trạng Vật.

Trạng Ăn: Lê Như Hổ người Thôn Vông, xã Tiên Châu, huyện Tiên Lữ, phủ Thượng Hồng, xứ Hải Dương (nay là xã Hồng Lam, huyện Tiên Lữ, Hưng Yên) từ nhỏ đã nổi tiếng thông minh, hiếu học lại có sức khỏe, khi trưởng thành ông có vóc dáng to lớn, khôi ngô, vạm vỡ.

Lê Nho Khoa người làng Đại Mão, huyện Thuận Thành, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc (nay thuộc Hoài Thượng, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh) đỗ Tiến sĩ khoa Đinh Sửu (1634) đời Lê Thần Tông, sau làm quan đến chức Lang trung bộ Lễ.

Từ nhỏ ông đã nổi tiếng ăn khỏe, dù nhà nghèo nhưng cha mẹ cũng cố lo cho con ăn uống không đến nỗi bị đói, nếu ăn ba thăng gạo (1 thăng bằng khoảng 7-8 lạng). Do ăn khỏe nên tuy làm quan văn nhưng ông sức vóc to lớn, năm Bính Tuất (1646) vì có công đánh dẹp phỉ, lại có tiếng là thành liêm, ghét kẻ tham ô nên Lê Nho Khoa được triệu về kinh làm việc.

Biết ông là người ăn khỏe, vua ban tiệc khen thưởng, khi ấy Lê Nho Khoa đã gần 50 tuổi, mình ông ăn hết một mâm xôi và một con lợn quay lớn khiến vua cùng triều thần rất kinh ngạc; vì yêu quý và mến tài nên về sau vua Lê Thần Tông thường thưởng đồ ăn cho ông.  

Trạng Cờ: Vũ Huyên (có sách chép là Vũ Huyến) quê gốc ở làng Mộ Trạch, trú tại làng Đan Luân, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, xứ Hải Dương (nay thuộc xã Nhân Quyền, huyện Bình Giang, Hải Dương) đỗ Tiến sĩ khoa Nhâm Thìn (1712) đời Lê Dụ Tông, làm quan đến chức Đông Các hiệu thư.

Tương truyền từ khi sinh ra trên trán Vũ Huyên có chỗ xương nhô lên trông giống như quân cờ; đến tuổi trưởng thành ông có tiếng tài giỏi về thi văn và tinh thông, xuất chúng môn cờ tướng.

Do có công giúp vua đánh thắng sứ nhà Thanh liên tiếp ba ván cờ nên ông được vua thưởng hậu và ban cho danh hiệu “Đấu kỳ Trạng nguyên”, dân gian thì gọi ông là Trạng Cờ rồi đặt câu ca ngợi: “Rượu làng Mơ, cờ Mộ Trạch” ý nói rượu ngon nhất thuộc về làng Mơ, không đâu cao cờ bằng dân Mộ Trạch.

Lê Thái Dũng (Phunutoday)

Sưu tầm: Đình Văn


 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

GIới thiệu

BÀI 2: Tài trợ, đóng góp cho hoạt động của Hội đồng Dòng họ Nhữ Việt Nam

 > BÀI 1: TRANG TT  ĐT HỌ NHỮ VIỆT NAM      Để tạo điều kiện cho các hoạt động của Hội đồng dòng họ Nhữ Việt Nam trong các năm 2010, 2011, quí I năm 2012. Hội đồng dòng họ Nhữ Việt Nam đã nhận được sự tài trợ, đóng góp của các cá nhân,...

Đăng Nhập

Bài viết mới nhất

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HỌ NHỮ VIỆT NAM
www.honhuvietnam.com      E-mail: honhuvietnam@gmail.com

Hotline:                                Fax : +84 4 3 863 1091