00:04 ICT Thứ tư, 21/08/2019

Danh mục bài viết

Gủi bài viết

Các bài viết

Trang nhất » Bài viết » Hồn Việt

Câu đối của các danh nhân thời Trịnh-Nguyễn phân tranh, Tây Sơn và Nguyễn (Phần 2)

Thứ sáu - 09/08/2019 19:49
Nhữ Trọng Thai
Nhữ Trọng Thai (cũng đọc là Nhữ Trọng Đài) người làng Hoạch Trạch, huyện Đường An. Nay quê ông thuộc xã Thái Học, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Sau khi đỗ Bảng nhãn, Nhữ Trọng Thai được bổ dụng làm quan, trải phong dần tới chức Hiến sát sứ. Sau trận Ngọc Hồi - Đống Đa, năm 1790 Nhữ Trọng Thai được vua Quang Trung cử đi cùng đoàn với người đống giả ngài là Phạm Công Trị sang Trung Quốc mừng thọ vua Càn Long và thụ phong làm An Nam quốc vương, tại Yên Kinh ông đã viết đôi câu đối mừng như sau:
Long phi ngũ thập hữu ngũ niên, ngũ số hợp thiên, ngũ số hợp địa, ngũ sự tu, ngũ hành thuận, ngũ đại đồng đường, linh lung ngũ phụng lâu tiền, ngũ sắc côn hoàng huy thể thụ (Rồng bay năm chục lẻ năm năm, số năm hợp với trời, số năm hợp với đất, năm sự trau dồi, năm hành xuôi thuận, năm đời chung sống cùng nhà, trước lầu năm chim phụng long lanh, năm sắc đan xen chói rực cây màu lộng lẫy)
Thánh thọ bát tuần phùng bát nguyệt, bát thiên vi xuân, bát thiên vi thu, bát nguyên tiến, bát khải đăng, bát phương hướng hóa, cổ vũ bát loan điện lý, bát tiên phiêu miểu tấu nghê thường (Lễ thọ nhà vua tám tuần vào dịp tháng tám, tám ngàn năm là mùa xuân, tám ngàn năm là mùa thu, tám nguyên hiền tài đến, tám khải kẻ sĩ chầu, tám cõi đổi đời, cổ vũ tám chim loan trong điện. Tám nàng tiên thăm thẳm dâng điệu múa nghê thường)
Câu đối này treo ở trụ trong ngôi điện mừng thọ vua Càn Long nhà Thanh 80 tuổi, có thuyết khác lại cho rằng câu này của Bành Văn Cẩn, nội dung có hơi khác 1 vài từ ngữ:
龙飞五十有五年庆一时五数合天五数合地五事修五福备五世同堂五色斑斓辉彩服
鹤算八旬逢八月祝万寿八千为春八千为秋八元进八恺登八音从律八方缥缈奏丹墀

Long phi ngũ thập hữu ngũ niên, khánh nhất thời, ngũ sổ hợp thiên, ngũ sổ hợp địa, ngũ sự tu ngũ phúc bị, ngũ thế đồng đường, ngũ sắc ban lan huy thái phục
Hạc toán bát tuần phùng bát nguyệt, chúc vạn thọ, bát thiên vi xuân, bát thiên vi thu, bát nguyên tiến bát khải đăng, bát âm tòng luật, bát phương phiếu miểu tấu đan trì

Lại có thuyết khác khẳng định đôi câu đối này, vế xuất của vua Càn Long còn vế đối của Lê Quý Đôn nhưng nội dung ngắn hơn:
Long phi cửu ngũ, ngũ thập ngũ niên, ngũ số hợp thiên, ngũ số hợp địa, ngũ đức tu, ngũ hành dụng, ngũ phúc lung linh hàm phượng liễn.
Thánh thọ bát tuần, bát phùng bát nguyệt, bát thiên vi xuân, bát thiên vi thu, bát nguyên tiến, bát khải đăng, bát tiên cổ vũ hạ nghê thường.

Vua Càn Long cao hứng có ra 1 bài thơ Đường Luật như sau:
Doanh phiên nhập cận trị thời tuần
Sơ kiến hồn như cựu thức thân
Y cổ vị văn lai Tượng quốc
Thắng triều vãng sự bỉ kim nhân
Cửu kinh nhu viễn chi trùng dịch
Gia hội ư kim miễn thể nhân
Võ yển văn tu thuận thiên đạo
Đại Thanh tộ vĩnh vạn thiên xuân

Dịch nghĩa:
Bề tôi phên dậu vào chầu thiên tử đúng lúc thiên tử đi tuần thú
Mới gặp đây mà ngỡ như người thân quen đã biết rồi
Theo như xưa thì chưa nghe việc người Tượng Quốc đến
Chuyện bắt cống nạp người bằng vàng của triều trước thật đáng khinh bỉ
Theo như Cửu Kinh trong sách “Trung dung” phải “nhu viễn”
(đối đãi mềm mỏng với chư hầu phương xa) vì chịu qua nhiều tầng phiên dịch
Nay hội tốt lành, ta cố gắng thể điều nhân
Võ im văn sửa thuận theo thiên đạo
Vận nước Đại Thanh mãi muôn ngàn xuân


Bài họa của vua Quang Trung (ở đây là Quang Trung giả)
Thượng tái cung chiêm ngọc lộ tuần
Khuynh quỳ nhất niệm hiệu tôn thân
Ba trừng quế hải tuân hầu độ
Nhật noãn minh giai kiến thánh nhân
Vạn lí thê hàng quy hữu cực
Cửu trung vũ lộ mộc đồng nhân
Càn hành cảnh ngưỡng vô cương thọ
Phổ suất tư đào Đế thế xuân

Dịch nghĩa:
Lên ải cung kính trông vết xe tuần thú của thiên tử
Một niềm ngưỡng vọng cung kính như việc tôn kính cha mẹ mình vậy
Sóng nước biển Nam tuân theo chế độ của chư hầu
Mặt trời ấm áp dưới thềm minh thấy Thánh Nhân
Muôn dặm thang thuyền đều quy về cực
Cửu trùng mưa móc đều được tắm gội cùng điều nhân
Sự vận hành của trời là thế, xin ngước vọng ngài vạn thọ vô cương
Khắp trời đất này đều được hun đúc dưới mùa xuân của đời Đế Nghiêu Đế Thuấn


Ngô Văn Sở
Ngô Văn Sở là người có công đối với nhà Tây Sơn, nhưng không may bị tội, phải dìm xuống nước sông Hương cho đến chết, thi hài chôn ở gần chùa Linh Mụ. Sau đó hai năm, ông được triều đình phục chức và cho cải táng đưa ra chôn ở làng Hà Lỗ gần Mỹ Chánh bên bờ sông Ô Lâu. Từ đó đến nay, năm nào con cháu cũng đi chạp ngôi lăng mộ này. Ông sinh tại làng Thuận Nghĩa, ở Hóc Môn, thuộc tỉnh Gia Định. Khi quân Tây Sơn vào đánh Gia Định thì ông Ngô Văn Sở ra hưởng ứng và từ đó phục vụ dưới trướng của Nguyễn Huệ - Quang Trung. Câu đối ở hai bên khám thờ:
Khai thác giang sơn thủ.
Huy hoàng miếu mạo quang.

Tạm dịch:
Người có công mở mang đất đai thì đứng đầu cả sông núi
Dáng vẻ ngôi miếu này thật là sáng sủa huy hoàng.

Câu đối ở mặt tiền ngôi miếu:
Địa tịch Thuận giang Ngô phái diễn,
Nhân tuyền Gia quận tướng môn lai.

Tạm dịch:
Đất đai mở mang ra ở (hai bờ) con sông (Vĩnh Định) chảy qua làng Thuận Nhơn để cho dòng dõi họ Ngô sinh sôi nẩy nở.
Người tại đây đã xuất phát từ con nhà võ tướng ở cố hương Gia Định mà ra.


Câu đối và giai thoại về nhân vật lịch sử Trần Công Xán (1731-1787)
Trần Công Xán còn có tên là Trần Công Thước người làng Yên Vĩ huyện Đông Yên phủ Khoái Châu (nay là thôn An Vĩ, xã An Vĩ huyện Khoái Châu). Ông đỗ tiến sĩ khoa Nhâm Thìn, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 33 đời Lê Hiển Tông (1772), được bổ làm quan chức Hiến sát, Tham chính. Năm Đinh Mùi (1787) ông vâng lệnh vua Chiêu Thống vào Phú Xuân điều đình với nhà Tây Sơn xin chuộc lại đất Nghệ An. Đến Phú Xuân, ông dâng trình quốc thư. Nguyễn Huệ xem xong giận vất xuống đất, sai bắt bỏ ngục. Trong ngục ông vẫn cười nói như thường, lại còn đề lên tường ngục đôi câu đối:
Đạt đức hữu tam, túng vị năng chi nguyện học
Tiểu tâm vô nhị, hành kỳ tố dã hà vưu

Nghĩa:
Đức thường có ba điều, nếu chưa đủ, xin học
Lòng mọn không hai, làm theo ý mình, còn oán hận gì

Quần thần Tây Sơn thấy vậy, tâu với Nguyễn Huệ đem giết đi. Nguyễn Huệ mến tài ông muốn thu dụng, ông bảo rằng: “Tôi từng nghe kẻ bề tôi nguyện chết, sự ấy xưa nay đều vẫn thế, ngoài ra, không dám nghe điều gì khác”. Nguyễn Huệ thấy không thể thu phục được ông, sai đô đốc Võ Văn Nguyệt sắp đặt thuyền bè đưa ông về Bắc. Thuyền ra đến giữa bể, Nguyệt ngầm sai người đục thuyền rồi phao tin thuyền bị bão đắm, ông và cả đoàn sứ bộ 18 người đều bị chết. Vua biết tin, thương tiết, truy phong cho ông là Trung liệt và phong làm phúc thần, truyền cho lập đền thờ tại quê nhà.

Câu đối khắc ở đình Tượng Sơn liên quan đến danh tướng Nguyễn Dụng
Đình Tượng Sơn nằm ngay trung tâm xã Quảng Long, trên một thế đất tương đối cao, phía trước có dòng sông Mai (sông Kênh Kịa) chảy qua, sau dựa vào triền cát như ôm trọn lấy làng Tượng Sơn. Cách đình Tượng Sơn khoảng 1 km về hướng Bắc là phần lăng mộ của danh tướng Nguyễn Dụng. Trên đường tiến quân đại phá quân Thanh (1789), tướng Nguyễn Dụng luôn đi đầu trong đội quân tiên phong thiện chiến, mang tính tiền trạm, mở đường cho Nguyễn Huệ cùng binh sĩ tiến công. Với công lao đó, ông được phong chức Chưởng Võ. Để tưởng nhớ đến công lao của Nguyễn Dụng và đội quân voi trận của Quang Trung, dân làng Đại Đan lấy tên đình làng là Tượng Sơn và Đình cũng được vua Quang Trung - Nguyễn Huệ phong tặng hai câu đối:
"Đệ nhất nghè thổ vương miếu vũ
Kim ấn ban phong Tượng Sơn thôn"


Câu đối liên quan đến Thoại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại (1861 - 1829)
Nguyễn Văn Thoại hoặc Nguyễn Văn Thụy, sinh tại huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam. Từ năm 1787 đến năm 1789, ông đã có công trong việc thu lại thành Gia Định nên được phong chức Cai cơ. Năm 1800, Thoại Ngọc Hầu được phong Khâm sai Thượng đạo Bình Tây tướng quân. Năm 1821, Minh Mạng sắc chỉ cho ông là Thống chế Bảo hộ Cao Miên, kiêm Quản quân vụ Trấn Hà Tiên - Châu Đốc. Năm 1827, ông lập các đội quân An Hải và Châu Đốc để bảo vệ lãnh thổ phía Nam. Ngoài chăm lo việc đào kênh, lập làng, khẩn hoang Ông còn cho xây dựng nhiều tuyến đường bộ quan trọng nối liền nước ta và Cao Miên. Trên án thờ Thoại Ngọc Hầu ở đình làng An Hải có đôi câu đối:
Nhất sinh công nghiệp truyền biên tái
Thiên tải tinh thần nhiên cố hương

Dịch nghĩa:
Một đời công nghiệp truyền biên tái
Muôn thuở tinh thần rạng cố hương


Lê Văn Duyệt (1763 - 1832)
Lê Văn Duyệt sinh tại vàm Trà Lọt, thuộc làng Hòa Khánh (nay thuộc xã Hòa Khánh, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang). Lê Văn Duyệt người thấp bé, nhưng lại có sức mạnh hơn người, từng được coi là một trong "ngũ hổ tướng" ở Gia Định. Tháng 11 (âm lịch) năm 1793, Lê Văn Duyệt được Nguyễn Ánh phong làm Thuộc nội Vệ úy, vì "tuy sinh ra là người (thái) giám, (nhưng là) người mạnh dữ mà đánh giỏi, có công tùng chinh". Kể từ đó, chúa Nguyễn thường bàn việc binh với Lê Văn Duyệt. Năm 1802, chúa Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi vua. Lê Văn Duyệt được phong làm “Khâm sai Chưởng Tả quân dinh Bình tây tướng quân, tước Quận công”. Lê Văn Duyệt phản đối việc nối ngôi của vua Minh Mạng và bảo vệ các tín đồ Công giáo Việt Nam khỏi chính sách bế quan tỏa cảng và trọng Nho giáo của nhà vua. Những việc này đã khiến ông thường xuyên xung đột với nhà vua và dẫn đến việc triều đình đã hạch tội và cho phá hoại lăng mộ sau khi Lê Văn Duyệt mất. Dưới đây là mấy câu đối được khắc trên bia mộ của ông:
天光生俊傑 Thiên quang sanh tuấn kiệt (Trời sáng sinh tuấn kiệt)
地好出英才 Địa hảo xuất anh tài (Đất tốt tạo anh tài)
四時花不落 Tứ thời hoa bất lạc (Bốn mùa hoa chẳng rụng)
八節鳥無飛 Bát tiết điểu vô phi (Tám tiết chim không bay)
Những câu đối ghi trong Gia Phả dòng họ Lê ở làng Bồ Đề - Quảng Ngãi liên quan đến Tả Tướng Lê Văn Duyệt:
Phần đầu Gia Phả là lời tựa, nêu tông tích của họ Lê từ khi về định cơ ở làng này. Trong bài tựa, công trạng của hai anh em Lê Văn Duyệt và Lê Văn Phong được đề cập đến nhiều nhất qua đôi câu đối:
Huynh nam, đệ bắc oai danh chấn;
Tử hiếu, thần trung tiết nghĩa cao.

Nghĩa là:
Anh trấn trong Nam, em trấn ngoài Bắc, lừng lẫy uy danh;
Con tròn đạo hiếu, tôi vẹn lòng trung, nêu cao tiết nghĩa.

Sau nhiều lần đề bạt của Thọ Xuân công, cùng các quan đình thần hợp nghị tâu lên, Tự Đức chính thức ban “dụ” phục chức cho Lê Văn Duyệt. Trong bài “dụ”, Tự Đức đã tỏ ra mình là một vị “anh quân” phân tích công, tội từng người có cân nhắc, thấu lý đạt tình. Đây là nguồn động viên lớn đối với con cháu họ và phần nào an ủi, giảm nhẹ nỗi oan hờn của những người đang nằm sâu trong lòng đất, chẳng khác nào như một luồng gió trong lành xua tan đám mây đen cho bầu trời thêm sáng rạng. Đúng như một câu đối khác của quyển gia phả họ Lê ở làng Bồ Đề đã ghi:
Tễ nguyệt, quang phong hoàn phục cựu
Lan tôn, quế tử phát sinh tân


Câu đối liên quan đến Hoàng Phi Tiết Nghĩa Nguyễn Thị Kim (1765 - 1804)
Hoàng Phi Tiết nghĩa Nguyễn Thị Kim húy Nguyễn Thị Cố, sinh tại thôn Thượng xã Tỳ Bà huyện Lương Tài phủ Thuận An xứ Kinh Bắc. Năm 16 tuổi, Tiểu thư được tuyển vào Cung sắc phong Hoàng phi của vua Lê Chiêu Thống. Năm 1084, quân thần đi theo Lê Chiêu Thống làm sớ tấu lên vua Thanh xin được chuyển hài cốt Vua, Hoàng Thái hậu, Nguyên tử,… về nước và được vua Thanh chiếu chuẩn cho. Ngày 15/8 năm đó, đoàn phục dịch đưa hài cốt Vua về tới ải Nam Quan, triều Nguyễn cử quan Hiệp Trấn Bắc Thành Đặng Trần Thường đi tiếp nhận di hài cốt của vua Lê, Hoàng phi cũng theo đoàn đi đón hài cốt của chồng và con. Từ ngày nhìn thấy di hài cốt của chồng con, bà Nguyễn Thị Kim mỗi ngày chỉ uống hai chén nước cháo rồi túc trực bên quan tài. Ngày 10/10 thì cải khâm hài cốt sang quách mới, Hoàng phi liền uống thuốc độc tự tử. Hiệp Trấn Bắc Thành Đặng Trần Thường, sau khi hoàn tất công việc được giao đã có câu đối khóc bà:
“Tiết nghĩa tàn đăng hạ
Cương thường nhất chước trung”

Dịch nghĩa:
“Tiết nghĩa dưới ngọn đèn tàn
Cương thường nhất chỉ có chết”

Tại xã Tỳ Bà, vua Gia Long cho lập đền thờ và dựng bia khắc chữ: “Khâm tử An trinh tuẫn tiết Nguyễn Thị Kim chi môn”. Nghĩa: “Kinh ban cho cửa nhà Nguyễn Thị Kim là người An trinh chết theo tiết”. Một tấm bia dựng giữa ban thờ khắc câu đối Hán tự nội dung như sau:
Nguyễn Triều Gia Tặng Thiên Thu Tạo
Cố Lý Anh Phong Vạn Cổ Tồn


Nguyễn Huy Lượng
Nguyễn Huy Lượng người làng Phú Thụy, huyện Gia Lâm (Hà Nội). Làm quan nhà Tây Sơn với chức Hữu thị lang Bộ Hộ (nên thường gọi là Hữu hộ Lượng), tước Chương Lĩnh Hầu. Tây Sơn sụp đổ, ông được nhà Nguyễn thu dụng, làm Tri phủ Xuân Trường, sau đó ông bị bức tử. Hồi còn trẻ, Lượng có một người quen cũng được học hành tử tế nhưng phải cái hơi... “tối dạ”. Hôm ấy, anh này được ông bố vợ tương lai nhắn gọi đến nhà dự bữa tiệc chiêu đãi các bậc văn nhân thành Thăng Long! Anh chàng biết mình thể nào cũng bị ông bố vợ “thử tài” trước mặt các quan khách. Chẳng còn hồn vía nào, anh ta chạy sang cầu cứu “cậu Lượng”! Lượng cười nói: "Thôi, anh đừng lo! Hôm ấy, tôi sẽ cùng đi với anh, nếu có gì bí tắc, tôi sẽ gà cho!" Anh chàng giẫy nẩy: "Trước hàng trăm cặp mắt quan chiêm như vậy thì cậu gà cháu làm sao được?" Lượng đáp: "Gà được chứ? Nghe tôi dặn đây: Nếu ông nhạc hỏi anh bất luận câu gì mà anh tự thấy không trả lời được thì cứ thản nhiên nói một câu...ba lăng nhăng gì đó, rồi tôi sẽ tán vào cho thành ý tứ hẳn hoi..." Quả nhiên giữa đông đủ khách khứa, ông bố vợ đưa cho anh con rể tương lai một tờ giấy viết một vế đối:
vế ra: Giậu rào mắt cáo, mèo chui lọt (Một vế đối rất khó: Hai cặp có nghĩa tương đồng là “giậu - rào” và “cáo - mèo”, lại nữa, “mắt cáo” là từ dùng theo nghĩa bóng: đan mắt cáo...)
Chẳng những chàng rể mà cả cử tọa xung quanh cũng đều bí như bị gặp trời mưa trước vế đối hiểm hóc ấy. Cậu Lượng đột ngột lên tiếng giục chàng rể: "Ông ra “cái giậu” đấy, đối đi thôi còn chờ gì nữa!" Chàng rể đưa mắt nhìn quanh, chợt trông thấy một cái rổ ở góc nhà, sực nhớ lời cậu đã dặn, bèn nói liều một câu rất chi là vu vơ: "Chậc! Hãy xem cái rổ kia kìa!" Thấy vế đối chẳng ra đầu cua tai nheo gì, mọi người bò ra cười. Ông nhạc tương lai sửng sốt nhìn chòng chọc vào mặt rể. Song, cậu Lượng bỗng cất tiếng: "Tuyệt! Đối thế là cực chỉnh!" Mọi người thôi cười, dán hết cả mắt vào cậu. Ông bố vợ cũng lấy làm lạ hỏi: "Bác nói anh ta đối hay ở chỗ nào? Sao tôi tịnh không thấy tăm hơi gì? Lúc bấy giờ cậu Lượng mới từ tốn đứng dậy phân tích rạch ròi: "Xin phép cụ và chư huynh! Anh bạn tôi đây vốn từ lâu đã học được câu các cụ ta xưa dạy rằng: “Người khôn ăn nói nửa chừng!”. Anh ấy lấy “cái rổ” để đối lại “cái giậu”, là chí phải: Vế ra là “Giậu rào mắt cáo, mèo chui lọt”
Anh ấy chỉ vào cái rổ có nghĩa là: Rổ nứt lòng tôm, tép nhảy qua thì thử hỏi còn chê bai bắt bẻ vào chỗ nào?!
Bấy giờ mọi người mới “ồ” lên một tiếng đầy thán phục với tài đối của chàng rể! Chữ “lòng”–”tâm” và “tôm”,”tép” cũng đều là từ cùng nghĩa vậy. Buổi tiệc hôm ấy vui hẳn lên, ông cụ cũng thỏa mãn vì kiếm được rể hay chữ, xứng đôi với con gái mình, đám cưới không bao lâu được tổ chức và cậu Lượng cố nhiên được đền ơn xứng đáng.

Câu đối của Hiệp Trấn Trịnh Hoài Đức (1765 - 1825)
Trịnh Hoài Đức thuở nhỏ tên An, tự Chỉ Sơn, hiệu Cấn Trai, người gốc Trung Quốc, một trong ba nhà thơ nổi tiếng của đất Gia Định. Ông cùng Nhữ Sơn Ngô Nhân Tĩnh, Tri Chỉ Lê Quang Định được đời tôn vinh là Gia Định tam gia. Tổ tiên của Trịnh Hoài Đức ở làng Phúc Hồ, huyện Trường Lạc, tỉnh Phúc Kiến, đời đời làm quan. Cuối đời Minh đầu đời Thanh, ông nội ông là Trịnh Hội, hiệu Sư Khổng di cư sang Việt Nam (vì không chịu cắt tóc theo kiểu nhà Thanh), ngụ cư tại xã Thanh Hòa, thuộc huyện Bình An, phủ Phước Long, trấn Biên Hòa. Đình Minh Hương Gia Thạnh hội quán tọa lạc tại 380 đường Trần Hưng Đạo, phường 11, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh. Đình là nhà việc của xã Minh Hương, một xã được thành lập vào năm 1698, tập hợp con cháu người Hoa ở dinh Phiên Trấn. Năm 1808, vua Gia Long ban cho tên "Gia Thạnh đường" nên đình còn có tên Minh Hương Gia Thạnh. Câu đối của Trịnh Hoài Đức làm năm Minh Mạng thứ 2 (1821):
MINH đồng nhật nguyệt diệu NAM thiên, phượng chử lân tường GIA cẩm tú
HƯƠNG mãn càn khôn binh VIỆT địa, long bàn hổ cứ THẠNH văn chương

Dịch nghĩa:
"Sáng cùng nhật nguyệt rạng trời Nam, lân múa, phượng bay thêm gấm vóc
Hương khắp đất trời thơm cõi Việt, rồng chầu hổ phục thịnh văn chương"


Đinh Hồng Phiên
Đinh Hồng Phiên sinh năm 1764 tại làng Ông La Giáp, tổng Kim Nguyên, huyện Chân Lộc, phủ Đức Quang (nay là xã Nghi Long, huyện Nghi Lộc, Nghệ An). Ông được bổ Toản tu Quốc sử quán triều Lê. Thời Nguyễn, vua Gia Long đã vời ông ra làm bổ Đốc học Quảng Nam. Năm Kỷ Mão, Gia Long thứ 18 (1819) ông được bổ Đông Các học sĩ, sung vào đoàn đi sứ nhà Thanh. Ông có 1 câu đối rất hay nội dung như sau:
燕 翼 貽 謀 溪 水 遠
鳳 毛 濟 美 錦 山 高

Yến dực di mưu khê thuỷ viễn (Tổ tiên lo cho con cháu đời sau như nước khe từ xa chảy về (nuôi giòng sông ở hạ lưu), ý nói đời trước lo cho đời sau)
Phụng mao tế mỹ cẩm sơn cao (Con cháu tạo công nghiệp sáng lạn, làm rạng rỡ tổ tiên như núi gấm ngày càng cao, ý nói đời sau làm rạng danh đời trước)
Câu đối này treo trong nhà thờ gia tộc vô cùng phù hợp, vừa ca tụng công lao của ông cha vừa nhắc nhở bổn phận của con cháu. Ai cũng là con cháu của các thế hệ trước, và rồi trở thành ông cha của các thế hệ sau. Vậy các điều trên, “yến dực di mưu” và “phụng mao tế mỹ” là bổn phận của mỗi con người.
Tại nhà thờ họ Đinh thuộc làng Kế Võ (xã Vinh Xuân, huyện Phú Vang, Thừa Thiên - Huế) có câu đối cũng dùng cặp thành ngữ trên:
燕 翼 貽 謀 觀 世 德 Yến dực di mưu quan thế đức
鳳 毛 濟 美 振 家 聲 Phụng mao tế mỹ chấn gia thanh

Tạm dịch:
Nhìn vào phước đức của gia đình hiện nay ta biết sự an bài của ông cha cho đời sau
Làm rạng tiếng tăm của gia tộc ấy do nỗ lực của con cháu biết phát dương quang đại công nghiệp của cha ông


Vũ Như Thụy
Người sáng lập Mậu Hòa thục là Tú tài Vũ Tông Cửu, thời gian sáng lập là khoảng 1807/08. Tộc phả gọi ngôi trường này là “Mậu Hòa thục” (chữ “thục” trong các từ tư thục, nghĩa thục), thơ văn của các thầy đồ họ Vũ-tông và môn sinh của họ thì gọi trang trọng là “Mậu Hòa giảng thất”. Ông Tú Cửu còn tiếp tục dạy ở Mậu Hòa chí ít là đến đầu những năm 30, chứng cớ là năm 1829 trên đường từ kinh đô Huế ra Bắc nhậm chức Tham hiệp Thái Nguyên, khi đi đến Mai Dịch, Nghè Phan có rẽ về Mậu Hòa vấn an song thân và thăm vợ con. Mậu Hoà thục được ông trao lại cho con trai thứ ba là Vũ Như Thụy, suốt ba chục năm Như Thuỵ làm sự nghiệp khai hoá của ông đồ Hướng Thiện theo những phương châm mà Tú tài Vũ Tông Cửu đã khởi xướng: “trung với dân” và “lo cho dân”. Phả ghi ông đồ Thụy qua đời tại ở Mậu Hòa thục và chép lại một câu đối viếng của môn sinh có nhắc đến cả hai ngôi trường của các ông đồ họ Vũ - ở thôn Tự Tháp ven hồ Gươm và ở làng Mậu Hoà:
Tự Tháp xuân viên tiên phu tử phương di đào lý
Mậu Hoà giảng thất Thái phong công trạch tại thi thư

Dịch nghĩa:
Tại vườn xuân ở thôn Tự Tháp vị thầy tiền bối
(ý nói ông Nghè Phan với ngôi trường đại tập trong thôn) còn lưu đệ tử (nổi tiếng như các Hoàng giáp Thượng thư Nguyễn Tư Giản, Đốc học Hà Nội Lê Đình Diên, Phó bảng Phạm Hy Lượng…)
Ở nhà giảng trong làng Mậu Hoà ông Thái Phong (ý nói cụ đồ Cửu, vì dạy các con thành đạt nên được vua Thiệu Trị phong chức tước) để phúc lại là sách vở thơ văn

Thân Văn Quyền
Nguyên quán của Thân Văn Quyền là làng An Lỗ, Quảng Điền, bắc sông Bồ. Thân Văn Quyền hay Thân Trọng Quyền, tự là Dụng Trung, sinh ở Cửa Sĩ. Thời Tây Sơn, Thân Văn Quyền ở Phú Xuân ẩn dật. Tây Sơn suy tàn, Nguyễn Ánh trở lại Phú Xuân thành Gia Long hoàng đế. Nhà vua đã cùng các quan văn võ bắt tay xây dựng Việt Nam. Bên kia sông, trường” Đại học Quốc gia” bề thế hoạt dộng, nơi đào tạo nhân tài phục vụ đất nước với triều đại mới, thì bên này sông, ở bến đò Cửa Sĩ, cũng có lớp học kiểu nhà tranh vách ván của thầy đồ nghèo Thân Văn Quyền, vẫn âm thầm khiêm tốn đào tạo nhân tài. Với tài năng và đức độ, hữu xạ tự nhiên hương, nhân dân vùng Thuận Quảng rất nễ trọng bậc đại ẩn họ Thân. Vì thế về sau, có người mừng ông câu đối:
“Nguyệt Biều Nhất Đái Thuỷ, Bắc Lai Chi Cuồng Lãng Nan Diêu
Hoa Ốc Kỷ Gian Sương, Tây Hạ Chi Mê Trần Bất Nhiễm“

nghĩa là:
Một dãi nước Nguyệt Biều, dẫu sóng phương Bắc dữ dội thế nào cũng không đục
Mấy gian nhà hoa ốc, dù bụi phương Tây dơ bẩn thế nào cũng khó lây

Năm 1828, Thân văn Quyền giữ chức Hữu Tham Tri bộ Hộ. Nghĩ đến phúc ấm của tổ tiên, Thân Văn Quyền xây dựng nhà thờ họ Thân ở Cửa Sĩ. Trong nhà thờ ông có đôi câu đối như sau:
“Đạo Vị Tiên Sinh Thủ
Danh Tòng Hậu Bối Khoa”

nghĩa là:
Đạo đức thì tiên sinh giữ
Danh tiếng thì hậu bối suy tôn


Ngô Huy Tuấn (1773 - 1837)
Ngô Huy Tuấn sinh ở Mão Điền có nguồn gốc phát sinh từ họ Ngô khoa bảng ở Tả Thanh Oai. Năm 1821, cụ thi đỗ cử nhân khi đã ngót 50 tuổi. Trải nhiều chức quan, từ Viên ngoại lang bộ Lễ cụ được thăng chức Thự tham hiệp Hưng Hoá. Do thành tích kinh lí biên giới mà Ngô Huy Tuấn liên tục được thăng lên Án sát sứ rồi Thự bố chính, suốt những năm ở chức, Ngô Huy Tuấn đều khéo trị dân, giảm thuế ở nơi có khó khăn, khi tự làm tướng, khi điều binh đi dẹp yên những nơi có biến loạn, được vua phong lên chức Tham tri bộ Binh, Phó Đô ngự sử kiêm quản hạt Hưng Hoá. Hiện nay di tích nhà thờ họ Ngô và lăng mộ Quan Trấn đã được xếp hạng là Di tích lịch sử văn hoá. Ngôi nhà thờ gỗ lim dựng từ năm 1835 nay vẫn còn nguyên trạng. Trong nhà thờ còn giữ được nhiều câu đối:
“Nhị phẩm trấn thần tiên ấm cựu
Ngũ niên châu kí quốc ân long”

nghĩa là:
Quan trấn nhị phẩm để lại phúc dài lâu
Năm năm giữ đất biên viễn được hưởng lộc nước cao dày

Lại có bức:
“Gia thanh Tân Tị ân khoa thuỷ
Quốc điển hiền lương miếu tế trường”

nghĩa là:
Tiếng tăm gia đình được bắt đầu từ khoa thi Tân Tị
Điển chương nhà nước kê rõ là tướng tài để thờ phụng mãi mãi


Phạm Thái (1777 - 1813)
Phạm Thái còn gọi Phạm Đan Phượng, Phạm Phượng Sinh, hiệu Chiêu Lì (hoặc Chiêu Lỳ); ông sinh tại làng Yên Thị, xã Yên Thường, huyện Đông Ngàn, trấn Kinh Bắc (nay thuộc Gia Lâm, Hà Nội). Ông từng khởi chống Tây Sơn nhưng thất bại bị truy nã, ông cắt tóc, đội lốt nhà sư, vào tu ở chùa Tiêu Sơn (tức chùa Thiên Tâm nằm trên lưng chừng núi Tiêu, nay thuộc xã Tương Giang, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh), đặt đạo hiệu là Phổ Chiếu Thiền sư.
Câu đối tự vịnh:
Một và tuần chén trắng lấy làm vui thuở trước có thờ chi thánh rượu
Ba mươi sáu tàn vàng cùng vậy, về sau không lễ giáng thần cơm

Câu đối viết tặng chùa Kim Sơn ở thành phố Huế:
Khách hồng trần lơ láo kiếp phù hư, lối kim cổ ra vào sinh tử mãi
Thợ huyền tạo khéo khôn tay ảo diệu, then càn khôn đóng mở tịch triêu mau

Câu đối này vế trên là của Phạm Kim lúc đó đang tu tại chùa, còn vế dưới là của Thụy Châu, bấy giờ đang cải dạng là một đạo sĩ đến thăm chùa, cả hai đều là nhân vật chính trong tác phẩm "Sơ Kính Tân Trang" của Phạm Thái.
Những câu đối Tết:
Xuân mới gọi là Xuân, Xuân thiều quang thục úc, Xuân xướng mậu huyên hòa, ai chẳng mong Xuân mãi để vui đời, kìa xem nơi kia đình, nơi nọ đáo, nơi ấy điếm đua cờ người, kéo hội, bắt chạch, gieo đu, Xuân năm ngoái vui lắm, năm nay lại vui ghê, muốn Xuân mãi để nhẩn nha ngày tháng Bụt
Tuổi cũng thì là tuổi, tuổi phú quí vinh hoa, tuổi công danh sự nghiệp, ai chẳng muốn tuổi dài cho sướng kiếp, nhưng mà ngày nay cờ, ngày mai bạc, ngày kia chè rượu, quay đất, bài phu, tổ tôm, xóc đĩa, tuổi ngày trước dại vừa, ngày rày còn dại mãi, nhiều tuổi chi cho tổn ải nước non Trời

Bật cần nêu đem mới lại cho mau, già trẻ gái trai đều sướng kiếp
Đùng tiếng trúc đuổi cũ đi đã đáng, cỏ hoa non nước cũng mừng Xuân


Câu đối liên quan đến danh nhân Trần Lê Hoán (1789 - 1857)
Trần Lê Hoán tự là Hồi Văn, hiệu là Bảo Xuyên, sinh ở thôn Quan Nhân, xã Nhân Mục Môn, tổng Khương Đình, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông (nay là phố Quan Nhân, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội). Sau khi đỗ một năm (1822) ông được sang Hành tẩu bộ Hộ đi sơ khảo trường Thừa Thiên và trường Bắc Thành. Khi Thiệu Trị lên ngôi (1841) ông được thăng Thự Lang trung, được sung Bồi tự giao tế, quyền Án sát tỉnh Nam Định, rồi quyền Tổng đốc Nam Định. Vì cha con, ông cháu, chú bác, anh em nối nhau đỗ đạt làm quan, nên gia đình ông Hoán được Hội Tư văn làng tặng đôi câu đối:
“Thúc bá, đệ huynh bản sinh đa sĩ
Tổ phụ, tử tôn thế xuất anh hùng”

Tạm dịch:
Chú bác, anh em vốn sinh tài giỏi
Ông cha, con cháu nối tiếp anh hùng


Câu đối liên quan đến Tổng đốc Hà Nội - Ninh Bình Đặng Văn Hòa
Đặng Văn Hòa, hiệu Lễ Trai, sinh năm Tân Hợi (1791) tại làng Thanh Lương, xã Hương Xuân, huyện Hương Điền, tỉnh Thừa Thiên, đỗ hương cống khoa thi hương đầu tiên đời Gia Long (1813), ra làm quan từ năm 1814. Năm 1830, ông giữ việc Hộ (coi sổ sách quân dân) ở Bắc Thành. Năm 1831, ông cầm quân lên Lai Châu đánh quân Thanh xâm phạm biên giới và lấy lại đồn Phong Thổ. Khi Vua Minh Mạng đổi tên Bắc Thành thành tỉnh Hà Nội, bãi bỏ chức Tổng trấn, đã bổ nhiệm ông làm Tổng đốc Hà Nội. Ngày ấy, nhà cửa ở Hà Nội thường làm bằng tre gỗ, ông đã cho sắp xếp lại đường phố. Mỗi khi nhà dân bị cháy, ông cưỡi voi đốc thúc binh lính và cùng dân chữa cháy, lại tổ chức cứu trợ ngay cho các gia đình bị nạn. Năm 1838, ông xin lập miếu Hỏa thần ba gian ở thôn Yên Nội, huyện Thọ Xương (nay ở 30 phố Hàng Điếu). Tại đây còn bút tích của Đặng Văn Hòa với bốn chữ “Vị dân chí kế” và đôi câu đối nói lên ý chí và trách nhiệm của mình trước vua và trước dân:
Túc hỏa lương trù khâm thánh doãn
Vị dân chí kế tự thần tri


Những câu đối liên quan đến Ngụy Khắc Tuần, Ngụy Khắc Đản và Ngụy Khắc Kiều
Ngụy Khắc Tuần (1799 – 1854) tên tự là Thiện Phủ, hiệu là Châu Phong, sinh trưởng tại xã Xuân Viên, tổng Xuân Viên, huyện Nghi Xuân, phủ Đức Thọ, tỉnh Nghệ An (nay là xã Xuân Viên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Đỗ Thám hoa năm Minh Mệnh thứ 7 (1826). Sau khi thi đỗ được bổ làm Hàn lâm, rồi thăng chức Lang trung bộ Hộ, trải làm Tham hiệp hai tỉnh Ninh Bình và Thanh Hóa. Thời Tự Đức có sứ Thanh tên là Lao Sùng Quang tặng Ngụy Khắc Tuần đôi câu đối:
Bạch vân thanh chướng vô triêu mộ
Thương cối đan phong hữu họa đồ

Dịch nghĩa:
Mây trắng rừng lam vờn sớm tối
Thông xanh phong đỏ rực họa đồ

Qua câu đối trên chứng tỏ Lao Sùng Quang rất hiểu sự gian lao vất vả và sự thành công của Ngụy Khắc Tuần trong việc tổ chức dân cư và biên phòng, đồng thời tỏ lòng khâm phục ông, ví ông như cây tùng bách, cây phong đỏ mà ta thường thấy trong các bức tranh thủy mặc

Ngụy Khắc Đản (1817 - 1873)
Tự Thản Chi, cháu gọi Ngụy Khắc Tuần bằng chú, đỗ cử nhân khoa Tân Sửu, được bổ làm huấn đạo huyện Can Lộc (nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh). Năm 1856, Ngụy Khắc Đản thi đỗ Đình nguyên Thám hoa. Sau đó, ông nhập ngạch Hàm lâm, rồi thăng dần lên Án sát Quảng Nam. Năm 1864, Ngụy Khắc Đản được thăng làm Bố chánh sứ Nghệ An, rồi lần lượt trải các chức: Khâm sai Kinh lý Trấn Ninh, sung Tuyên phủ sứ, thự Hữu tham tri bộ Hộ, Thượng thư bộ Binh, Thượng thư bộ Công, sung tham biện viện Cơ mật. Sau vì bệnh, Ngụy Khắc Đản xin cáo về rồi mất tại quê nhà. Vua Tự Đức chuẩn cho ông thực thụ hàm Tham tri và sai quan đến tế, tương truyền ông từng có câu đối phê phán các đại thần đương đại như sau:
Chú đại thần, cháu đại thần, đại thần gì, thần lằn (thằn lằn tiếng Nghệ Tĩnh đọc là Thần Lần)
Nay sĩ khí, mai sĩ khí, sĩ khí chi, khí gió

Ngụy Khắc Kiều (?-?)
Là con ông Ngụy Khắc Huy, cháu ông Ngụy Khắc Tuần. Vì cha và ông có công, nên được ấm thụ chức Kiểm thảo sau được bổ làm Tri huyện huyện Văn Giang, rồi Tri huyện Kim Anh. Năm 1885, Hàm Nghi xuất bôn với Tôn Thất Thuyết, ông được phong Phó sứ sơn phòng Quảng Trị. Đến khi Hàm Nghi bị bắt (1888), ông chạy vào rừng hoạt động cùng với nhóm văn thân giúp đỡ cung cấp vũ khí cho phong trào Cần vương. Nghe tin mẹ ốm, ông về thăm bị bắt. Hoàng Cao Khải khuyên ông ra làm quan, nhưng ông một mực từ chối. Ông bị quản thúc cho đến chết. Năm Ngụy Khắc Kiều 70 tuổi, Đông các đại học sĩ Cao Xuân Dục có câu đối mừng thọ ông như sau:
Đình giáp môn cao, văn mạch kế kim khai thọ mạch
Tùy thời nghĩa đại, tu danh tự cổ yếu hoàn danh

Dịch nghĩa:
Tột đỉnh cửa cao, văn mạch, đến nay truyền mạch thọ
Tùy thời nghĩa lớn, danh tu tự ấy vẹn danh thơm


Giai thoại đối đáp liên quan đến Hoàng Giáp Nguyễn Đăng Huân (1804 - 1837)

Nguyễn Đăng Huân sinh tại xã Hương Ngãi, huyện Thạch Thất, tỉnh Sơn Tây (nay là Hà Tây). Từ bé đã nổi tiếng học giỏi, có tài ứng đối. Tương truyền, khi còn nhỏ có vị quan họ Bùi, bạn của cụ thân sinh đến thăm thầy Đăng Huân thông minh lanh lợi liền ra một câu đối như sau:
Nhị thân cư đồng hương, hà địa bất sinh tài, hà tài bất tư thế
Nghĩa là: Hai người ở cùng làng, đất nào chẳng sinh người tài, người tài nào chẳng giúp đời
Đăng Huân liền đối lại ngay:
Nhất cử đăng khoa đệ, tự Hương dĩ cập Hội, tự Hội dĩ chí Đình
Có nghĩa là: Một lèo thi đều đỗ, từ thi Hương rồi thi Hội, từ thi Hội đến thi Đình
Vị quan họ Bùi khen ngợi Đăng Huân là người rất có khẩu khí. Quả nhiên sau đó Nguyễn Đăng Huân đã thi một mạch đến Hoàng Giáp Tiến sỹ. ngày nay trên cổng cũ của gia đình vẫn còn dòng chữ “Nguyễn Đình nguyên - đệ nhất bộ”. Nguyễn Đăng Huân được nhận chức Hàn lâm viện ty soạn, sau bổ là Tri phủ Điện Bàn (Quảng Nam).
Thân sinh của cụ Hoàng Giáp là Nguyễn Đình Thực cũng là người thông minh, nhân hậu. Năm Tân Dậu (1801), niên hiệu Bảo Hưng, cụ thi trúng Quốc tử giám thượng đường giám sinh. Sau khi ở Quốc tử giám về quê, cụ mở trường dạy học. Vợ cụ Hoàng Giáp là cụ bà Nguyễn Thị Chuyên cũng là người có học và có tài ứng đối. Theo ghi chép thì trong thời gian cụ Hoàng Giáp còn đi học và đi thi, lý dịch đã bắt cụ bà đi phu thay chồng đắp đê sông Tích, một con sông chảy qua huyện Thạch Thất. Quan tri huyện thấy vậy có hỏi, cụ trình bày lý do, quan huyện ra một vế đối và yêu cầu nếu đối được sẽ miền cho việc phu dịch.
Câu đối như sau: “Phu là chồng, Phụ là vợ, vì chồng nên vợ phải đi phu”
Cụ bà đối lại: “Mẫu là mẹ, Tử là con, thờ mẹ sao con còn nói mẫu”
Quan huyện đỏ bừng mặt, nhưng rất phục, liền tặng cụ một nén bạc và miễn cho việc đắp đê, đồng thời yêu cầu lý dịch về sau không được làm phiền cụ bà nữa. Sau này khi cụ Hoàng Giáp được vinh quy bái tổ, số lý dịch trước đây thường có những hành vi nhũng nhiều, gặp khó khăn cho gia đình, đến lạy cụ tha tội. Cụ không truy cứu, chỉ khuyên bọn chúng từ nay không được quấy nhiễu dân chúng nữa.
Về giai thoại này trong dân gian còn lưu truyền 2 vế đối khác do Nguyễn Đình Thực trực tiếp đối đáp với viên quan nọ như sau:
vế đối 1: Ngã là ta, nhĩ là mày, tại mày nên ta mới ngã
vế đối 2: Phụ là cha, tử là con, công cha con không dám phụ
Những vế đối này cũng rất chuẩn, các cặp cùng nghĩa đã được nêu trực tiếp. Các cặp cùng âm: “phụ” (cha) 2 ”phụ” (phụ bạc); “mẫu” (mẹ) 2 ”mẫu” (nói mẫu: nói bông lơn, nói mỉa mai).
Các cặp cùng nghĩa đã được nêu trực tiếp. Các cặp cùng âm như sau: “phu” (chồng) 2”phu” (phu phen, lao dịch); “ngã” (ta) 2”ngã” (té ngã)
Nghe xong, viên quan lẩm bẩm nhắc lại từng chữ: "Ngã ta, nhĩ... mày, tại mày... ta... ngã... Chậc! Cũng Hán cũng Nôm ... hay thật". Rồi truyền tha cho cả hai vợ chồng. Nhưng về sau, ngẫm nghĩ lại, viên quan mới cảm thấy choáng váng như người vừa bị một cái tát. Nhẩm nhiều lượt: "Tại mày... ta... ngã", đến bây giờ mới thấy chỗ xỏ lá của vế đối, ấy là lời Nguyễn Đình Thực nói với vợ, nhưng cũng chính là lời Nguyễn Đình Thực chửi vào mặt viên quan.

Giai thoại đối đáp của Bảng Nhãn Vũ Duy Thanh (1807 - 1859)
Vũ Duy Thanh tên thật là Vũ Văn Tân, tự Trừng Phủ, hiệu Mai Khê, Vĩ Nhân, được gọi là "Trạng Bồng" vì đỗ thủ khoa triều Nguyễn tương đương với Trạng nguyên thời Đại Việt. Đương thời ông được ca tụng bởi đôi câu đối:
"Quế tiên nơi bình địa
Trạng nguyên chốn dân gian

Kim Bồn, nay là làng Vân Bồn, huyện Yên Khánh, Ninh Bình. Năm Tân Hợi (1851), đỗ phó bảng. Khoa này, Phạm Thanh người Thanh Hóa đỗ bảng nhỡn. Kéo bảng xong, vua Tự Đức nằm mơ thấy có người bảo: "Khoa này còn bỏ sót lại người tài", và đưa một cái bảng ra, trong có hai chữ Thanh. Khi tỉnh dậy, vua lấy làm phân vân, sau cho mở thêm ngày ân khoa, cho các tú tài củ nhân và phó bảng đã đồ từ trước đến nay đều được vào thi cả. Khoa hội ấy, Vũ Huy Dực đỗ 6 khoa tú tài, được chấm đỗ hội nguyên, Vũ Duy Thanh đứng thứ nhì. Khi vào thi đình, Vũ Duy Thanh được 8 phân, mà Vũ Huy Dực được có 6, thành ra Vũ Duy Thanh đỗ bảng nhỡn trị trạng nguyên, Vũ Huy Dực đỗ thám hoa; vì thế nên thường gọi Vũ Duy Thanh là cụ bảng Kim Bồng. Ngày con đi học, gặp năm nước sông lên to, tri phủ Yên Khánh về đốc dân hộ đê, ông đi ngang qua đó, lính bắt phải xuống khiêng đất, ông xin miễn lấy cớ là học trò yếu ớt. Tri phủ nói: "Nếu thực là học trò, ta ra cho câu đối":
Quan thị đắp đê Kim Bồng, chắn hồng thủy cho dân được cậy
Ông ứng khổi đối ngay:
Nhà nho đỗ khoa bảng nhãn, quyết tranh khôi, thì chí mới cam
Câu ra dụng ý dùng bốn thứ quả: thị, hồng, bồng, cậy (chữ thị: tri phủ nguyên là hàm thị độc). Câu đối lại có bốn thứ quả: nho, nhãn, chanh, cam . Lúc đối là ngẫu nhiên, cốt đối cho đúng lệ mà thôi, ai ngờ về sau ông đỗ bảng nhãn, thành ra câu đối có vẻ ứng nghiệm như lời thi sấm, nên mới được truyền tụng. Giai thoại trên theo thuyết khác lại là của ông tổ nghề thêu Lê Công Hành thời Hậu Lê nhưng có khác 1 vài từ ngữ.
Gặp năm tế Nam Giao, ông xung vào chức bồi tự, phàm các quan dự tế, mỗi người phải nghĩ một câu đối để viết vào đàn giao. Câu của ông như sau:
Chí thành tùy địa hữu vu, như tại kỳ thượng, tại kỳ tả hữu
Thánh đức dữ thiên vô gián, nhi huống ư nhân, huống ư quỷ thần
Vế trên lấy chữ trong sách Trung dung: lòng thành tùy chốn nào, cũng có cảm tin như là thần minh ở trên,và ở tả hữu> Vế dưới lấy chữ trong Kinh Dịch: đức nhà vua đối với trời không xa cách (gián đoạn) huống chi người và quỷ thần
Lúc nhàn rồi ông cao hứng vịnh bài thơ "Phong Hoa Tuyết Nguyệt":

Thi đàn tế liễu lộng hoa hài
Khách bộ tùy sương, ấn bích đài
Kỳ cục đả phong thanh áp trận
Tửu biều nghinh tuyết bạch hòa bôi
Sơ liêm thấu nguyệt hương ly cúc
Yến tịch lăng hoa vị át mai
Phi phất lĩnh đầu chiêm tĩnh điếm
Thi đàn tế liêu lộng hoa hài

Dịch nghĩa:
Đi hài hoa đến thi đàn, qua dặng liễu nhỏ
Lốt giầy khách đi sớm, in trên rêu biếc
Nhân lúc gió mát đánh cuộc cờ
Có tuyết xuống nghiên bầu rượu uống
Vườn cúc bóng trăng soi qua rèm thưa
Mùi hương hoa mai đưa vào tiệc yến
Phất phơ gió thổi qua điếm vắng trên đỉnh núi
Đi hài hoa đến thi đàn, qua dặng liễu nhỏ

Bài này tài tình, đọc xuôi là thơ chữ Hán, đọc ngược từ dưới lên trên theo lối đọc chữ nôm thì lại thành thơ quốc văn
Giầy hoa lỏng lẻo tới đàn thơ
Điếm tạnh xem đầu núi phất phơ
Mai át mùi hoa lừng tiệc yến
Cúc lìa hương nguyệt thấu rèm thưa
Chén hoà bạch tuyết nghiêng bầu rượu
Trận áp thanh phong đánh cuộc cờ
Rêu biếc in sương theo bước khách
Giầy hoa lỏng lẻo tới đàn thơ

Một hôm vào khoảng thánh hai, có người khách tên Bình Sơn đến nhà, ông đi vắng, khách để lại mấy chữ:
Nhất giáp nhất danh kim bảng quý
Tứ nguyệt tứ nhật ngọc lâu thành

Từ đấy không thấy Bình Sơn trở lại. Đến ngày mồng 4 tháng 4 năm ấy ông từ trần, bấy giờ mới hiểu câu "Tứ nguyệt tứ nhật ngọc lâu thành" . Sau khi từ trần, giám thần dâng sớ lên, vua Tự Đức châu phê : Khả mẫn gia tuất tiền bách (khá thương gia ân cho 100 quan tiền), và cho đưa quan tài về quê ở Ninh Bình, tư cho đi qua tỉnh nào, các học quan tỉnh ấy đều phải phúng điếu. Các quan ở Kinh có câu đối viếng:
Cửu nguyên di hận Trà Sơn úc
Thiên lý quy hồn Thuý Lĩnh phong

Chín suối còn di hận ở vùng núi Trà sơn (thuộc Đà Nẵng): Lúc Pháp đánh cửa Đà Nẵng, ông có dâng sớ xin tòng quân, nhưng vua không cho. Du hồn về núi Thúy sơn, đường xa nghìn dặm (Thuý sơn thuộc Ninh Bình).

Câu đối của bảng nhãn Phạm Thanh:
Phạm Thanh (1821 - ? ) hiệu là Đạm Trai và Nghị Trai, tự là Di Khanh, người thôn Nội, xã Trương Xá, tổng Đăng Trường, huyện Hậu Lộc, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã Hoa Lộ, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa). Ông đỗ Giải nguyên kì thi Hương năm Mậu Thân 1848, niên hiệu Tự Đức. 3 năm sau, ông đỗ Bảng nhãn. Phạm Thanh làm quan Tham tri Hộ bộ. Ông đã viếng Vũ Duy Thanh như sau:
Nhân bảo đương vi thiên hạ tích
Hoạn tình năng động cửu trùng lân
Người quý nay mất đi, thiên hạ đều tiếc
Tính làm quan thanh bạch, cửu trùng cũng thương


Câu đối của nội các Vũ Phạm Khải:
Đông canh đồng thuận, đồng tính thị châu lư, vãn bối suy quân tiêu vật vọng
Thử cảnh thử tình, thử giang sơn bi kiệt, tích hiền tiên ngã ký sầu ngâm

Cùng tuổi, cùng học, cùng họ lại cùng tỉnh, những học trò lớp sau đều tôn trọng ông là bực tiêu biểu: (ông Khải chỉ đỗ cử nhân nên mong học trò lớp sau, đỗ được cao như ông bảng ).
Tình ấy, cảnh ấy, núi sông ấy và bia đá ấy, người hiền xưa đã trước ta, gửi tiếng sầu ngâm: (người xưa, chỉ Trương Hán Siêu, vì Trương làm bài văn bia Linh Tế Tháp, ông Bảng có bài Bình Linh Tế Tháp, việc văn chương có can hệ đến mối sầu cảm.)
Những câu đối đề ở nhà thờ họ Vũ làng Kim Bồng:
Câu thứ nhất:
Vế phải : BảNG NHÃN THỊ TRạNG NGUYÊN KHOA DANH THUỶ THỬ.
Nghĩa: (đỗ Bảng Nhãn, coi như là đỗ Trạng Nguyên vậy, khoa Bảng và danh tiếng bắt đầu từ đây)

Vế trái : VĂN CHƯƠNG KIềM HẠNH ĐỨC HọC GIả NGƯỠNG CAO

Nghĩa: (Tài văn chương gồm luôn hạnh kiểm, đức độ, khiến giới có học phải ngưỡng mộ ông ở chổ trên cao).

Lùi vào phía trong, nơi đặt Ngai thờ Bài vị cụ Bảng và song thân, có câu khác nội dung như sau:

Vế phải: SĨ HOẠN HOÀNG LÊ SƠ ĐĂNG PHÚC

Vế trái: KHOA DANH Đế NGUYỄN KINH THốNG QUANG.

Những câu đối của Ông Nghè Nguyễn Quý Tân (1814 - 1858)
Câu đối gà cho học trò:
Nguyễn Quý Tân hiệu Đình Trai, người làng Thượng Cốc, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương. Khi chưa đỗ ông Nghè, Nguyễn Quý Tân có mở trường dạy học. Một hôm thấy các trò lớn đều đến chậm, ông hỏi chuyên cớ thì được các trò cho biết như sau: Nguyên ở gần trường, ngay giữa lối học trò qua lại, có một cô gái nhà nọ người xinh đẹp mà lại giỏi chữ. Học trò qua lại thường buông lời chòng ghẹo, nhưng cô ta không trả lời. Một hôm có mấy anh chàng táo bạo, vào tận nhà làm thơ ghẹo cô ta. Cô ta tức khí mới ra một vế đối, bảo hễ đối được thì sẽ tiếp chuyện, bằng không thì đừng có qua lại trước cửa nhà cô ta. Mấy anh chàng không đối được. Thế là cả đám học trò từ đấy không dám vác mặt qua lối ấy nữa, mà phải đi vòng lối ven làng do đó đến chậm...Thầy đồ Tân thấy câu chuyện lý thú, bèn hỏi: "Câu ra thế nào?" Một học trò đứng dậy: Yêu nhau như bàu, như rót, như hót vào thúng, như búng con quay, như xoay thợ tiện, như bện hàng tơ

Thầy nghe qua nói: "Tưởng gì, câu tục ngữ ấy mà không đối được à? Các anh dốt thế chả trách được!"
Rồi thầy gà luôn cho các trò câu đối lại như sau: Lấy đây có bầu, có bạn, có ván cơm xôi, có nồi cơm nếp, có đệp bánh chưng, có lưng hũ rượu.
Các trò được thầy gà cho, mừng quýnh, tranh nhau học lấy làm lòng. Chiều về, cả bọn lại hiên ngang đi qua lối cũ và vào gặp cô gái để xin đối. Cô gái nghe câu đối rất phục, bằng lòng tiếp chuyện. Nhưng các trò đã bị một phen hú vía, nên đều bảo nhau bớt mồm bớt miệng, không dám giở thơ giở phú ra với cô ta nữa.
Câu đối viết hộ 2 chị em góa chồng:
Nghè Tân ở gần nhà một người có hai vợ, hai người vơ lại là hai chị em ruột nên ăn ở rất thuận hoà. Một hôm người chồng bị vu cao là tòng đảng với kẻ cướp nên phải đi tù mấy năm ròng, đến khi được tha không đầy một tháng thi mắc bệnh mà chết. Hai chị em xót thương chông mới sang xin ông Nghè câu đối về thờ, ông viết :

Nghĩ rằng rết khoẻ nhờ chân, chị ngã em nâng đành đã vậy!
Ai ngờ cóc chết hết chuyện, quan tha ma bắt biết làm sao?
Giai thoại xướng họa cùng Uy Viễn Tướng Công Nguyễn Công Trứ:
Tương truyền, khi Nguyễn Công Trứ về lĩnh chức Tổng đốc vùng Hải An thì Nguyễn Quý Tân vừa mới thi đậu cử nhân. Nghe tiếng quan Tổng đốc là bậc tài hoa, Nguyễn Quý Tân muốn gặp. Thế rồi từ chỗ mến tài nhau, nên tuy hơn tới ba giáp nhưng Nguyễn Công Trứ và Nguyễn Quý Tân đã trở thành bạn tri âm tri kỷ. Công Trứ xin cho Nghè Tân được bổ đi làm Giáo thụ ở Bình Giang, vì nể quan Tổng đốc nên Nghè Tân nhận lời, nhưng vẫn tìm cách “gây sự” bằng cách sai con trai đem một bức thư sang dinh cụ Trứ xin cầm lấy chút tiền làm lộ phí. Nguyễn Công Trứ mở thư xem thì thấy đó là một bài thơ đường luật:

vế ra: Có nghề mà lại cậy chi nghề/ Nghề thế ai ngờ lại hóa nghê/ Vạn sự bất như thân cũng hổ/ Nhất văn vô hữu nợ còn bê/ Công danh chỉ tổ đồ khoe mã/ Cờ biển còn hơn của ướt sề/ Bôn tẩu làm chi cho rách gấu/ Thà rằng ngồi đó vuốt râu dê
Nguyễn Công Trứ đọc xong tuy giận nhưng không nói gì, chỉ sai người lấy tiền, cho cậu con trai của Nghè Tân mang về. Và lẽ tất nhiên là cụ Nguyễn Công Trứ cũng không quên gửi kèm thêm bài thơ họa nguyên vần, mà số từ chỉ thú vật trong đó còn nhiều hơn những...3 con so với 1 trong bài thơ của Nghè Tân!
vế đối: Tám vạn nghìn tư thứ ngỗng nghề/ Thứ nghề áo mũ thứ nghề nghê/ Mày râu ngẫm lại lòng thêm hổ/ Thư kiếm sao đành dạ bỏ bê/ Xanh đỏ rẻ cùi khoe tốt mã/ Phong lưu khỉ gió hót đầy sề/ Xin đừng giở thói văn chương nữa/ Bán chó sao ngoài lại thủ dê?
Năm 70 tuổi, Nguyễn Công Trứ làm bài thơ chữ Hán để mời các bạn cùng hoạ nhân dịp “thất thập cổ lai hi”. Cụ Thượng Trứ lại thích nhất bài của của ông Nghè Nguyễn Quý Tân. Sở dĩ như vậy là vì trong khi mọi người đều hoạ bằng chữ Hán thì duy nhất một Nghè Tân viết bằng tiếng Nôm:
Bài thơ "Thất thập tự thọ" của Nguyễn Công Trứ nội dung như sau: 日對兒曹自解頣,今吾不似故吾時,隨機塊儡供人笑,逐驥年花屆古希,老實不堪粧面目,英華安用染鬚髭,自慚毫末渾無狀,怪殺鴻山有是非 Nhật đối nhi tào tự giải di, kim ngô bất tự cố ngô thì, tùy cơ khối lỗi cung nhân tiếu, trực ký niên hoa giới cổ hy, lão thực bất kham trang diện mục, anh hoa an dụng nhiếm tu tỳ, tự tàm tiên liệt hào vô trạng, quái sát Hồng Sơn hữu thị phi (Hằng ngày ta sẽ cùng chơi đùa với trẻ con, ta hôm nay không còn giống ta ngày xưa nữa, ta theo thời mà làm con rối mua cười cho thiên hạ, thấm thoát nay đã đến tuổi cổ lai hi, cái chân chất không cần trau tria mày mặt nữa, vẻ tốt tươi đem nhuộm cho râu tóc để làm gì, ta tự lấy làm thẹn chẳng có chút công trạng gì, thôi hãy phó mặc cho núi Hồng hạ lời khen chê). Bản dịch ra thơ Đường Luật của Lê Thước: "Ngày cùng lũ trẻ cợt đùa chơi, quả thực ta nay khác trước rồi! Múa rối mấy hồi rằng giúp nước, sống lâu bảy chục cũng ơn trời! Thật thà bao quản khoe mình đẹp, tóc bạc xin đành kém vẻ tươi! Những thẹn bất tài không báo bổ, non Hồng thôi mặc tiếng trên đời!"
1 - Bài họa bằng thơ Nôm của Nghè Tân: Bẩy mươi tuổi tác vẫn nhường ri, mới biết xưa kia buổi thiếu thì, rượu tỉnh thơ say hồn Lí Bạch, trúc cười hoa cợt thú Vương Hi, giang sơn nắm lại đôi tay khẩu, văn võ buông ra một ngón tì, cùng kiếp phù sinh hay dở sạch, dẫu ai tiếng thị với lời phi!

Lấy vần Nôm họa lại vần chữ Hán là một việc rất khó, vì đó thực chất là hai ngôn ngữ, một âm vần nhưng ở hai trường nghĩa khác nhau, nhưng ông bạn trẻ Nghè Tân (lúc đó mới 34 tuổi) tài hoa đã tài tình chọn được những từ, những ý rất đắt, rất hợp tâm hợp ý của người bạn già: không gợi đến cái thời “làm con rối mua cười cho thiên hạ”, màchỉ nhắc lại “buổi thiếu thì” xưa kia với những thú vui của cầm kì, thi tửu; còn bây giờ lại vẫn cuộc chơi “ngoài vòng cương toả”, bất chấp miệng thế gian thị phi hay dở.
2 - Bài của Cao Bá Quát: 群山南望獨支頤,遙想先生未老時,自古英雄遇常異,即今齒德見眞稀,飽嘗世味终須酒,斷禁霜花不上髭,聞道鴻峰欲回首,豈應六十九年非 Quần sơn nam vọng độc chi di, dao tưởng tiên sinh vị lão thì, tự cổ anh hùng ngộ thường dị, tức kim xỉ đức kiến chân hy, bão thường thế vị chung tu tửu, đoạn cấm sương hoa bất thướng tỳ, văn đạo Hồng phong dục hồi thủ, khởi ưng lục thập cửu niên phi! (Một mình ngồi chống tay vào cằm, nhìn về các núi phía nam, xa tưởng đến hồi tiên sinh còn chưa già, sự gặp gỡ của bậc anh hùng từ xưa vẫn khác thường, những người tuổi cao đức cả (như tiên sinh) ngày nay thật hiếm thấy, mùi đời đã nếm đủ rồi rốt cuộc vẫn cần đến rượu, cấm ngặt hoa sương không cho bén vào râu, nghe nói tiên sinh muốn quay về ngọn núi Hồng, vậy lẽ nào cách xử thế năm sáu mươi chín tuổi của tiên sinh là không phải sao?) Trúc Khê dịch ra thơ Đường Luật: "Non nam một dải ngó xa xa, nhớ lại tiên sinh lúc chửa già, từ trước anh hùng nhiều chuyện lạ, đời nay xỉ đức thấy ai chưa? Mùi đời nếm chán cần thêm rượu, râu mép phun nhiều cấm điểm hoa, nghe nói non Hồng sắp trở lại, lẽ nào lầm cả những năm qua?"

Những câu đối của Tri Phủ Hán Dương Ngải Tuấn Mĩ tặng đoàn sứ bộ Đại Nam
Năm 1868, vua Tự Đức cử đoàn sứ bộ sang triều cống nhà Mãn Thanh. Cầm đầu là Kinh Lược Sứ Bắc Kỳ Lê Tuấn, phó sứ là Nguyễn Tử Giản, phó sứ thứ 2 là Hoàng Tịnh. Sau 125 ngày họ đến huyện thành Hà Dương tỉnh Hồ Bắc, ở đó đoàn Sứ bộ Việt Nam được viên tri phủ Hán Dương là Ngải Tuấn Mỹ đón tiếp và tặng mỗi người một đôi câu đối:

Câu đối tặng chánh sứ Lê Tuấn ( ? - 1884):
Hữu khẩu tu ngôn thiên hạ sự (Có miệng nên nói việc thiên hạ)
Kháng hoài bất nhượng cổ chi nhân (Nghị lực không chịu nhường người xưa)
Lê Tuấn là người huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, thi đậu Hoàng giáp khoa thi Đình Quý Sửu - 1853. Ông từng làm Thượng thư bộ Hình, Kinh lược sứ Bắc Kỳ. Hòa ước năm Giáp tuất 1874 do Lê Tuấn, Nguyễn Văn Tường và toàn quyền đại thần làm khâm sai cho quốc trưởng Pháp là Dupré, tổng thống Nam Kỳ thủy lục quân dân đại nguyên soái, cùng bàn định và kí tên. Lê Tuấn qua đời năm 1884 ở Gia Định. Krantz đưa tàu thủy hộ tống linh cữu và sứ bộ về Huế. Vua ra dụ thương tiếc, truy tặng chức hàm và sai hoàng tử trưởng Ưng Chân đến tế linh cữu Lê Tuấn.

Câu đối tặng phó sứ Nguyễn Tư Giản (1823 - 1890):
Nguyễn Tư Giản trước có tên: Văn Phú, Địch Giản, sau mới đổi lại là Tư Giản, tự: Tuân Thúc, Hy Bật, hiệu: Vân Lộc và Thạch Nông. Nguyễn Tư Giản sinh tại làng Du Lâm, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (nay là thôn Du Lâm, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội). Dưới đây là đôi câu đối do Ngải Tuấn Mĩ tặng ông lúc đi sứ Trung Quốc:
Thập tải luân giao cầu cổ kiếm (Mười năm chọn bạn như tìm thanh kiếm cổ)
Nhất sinh đê thủ bái mai hoa (Một đời chỉ biết cúi đầu lạy hoa mai)

Đôi câu đối này được hậu thế gán cho Cao Bá Quát sáng tác, rước đó 14 năm, Cao Bá Quát đã hy sinh trong cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương (Giáp Dần 1854)... phải chăng người đời do quá yêu mến Chu Thần Tiên Sinh nên cứ thích tương truyền câu “nhất sinh đê thủ bái mai hoa” là của ông như một giai thoại để đời?

Câu đối tặng phó sứ Hoàng Tịnh:
Truyền thần cổ hữu Lý Tư Huấn (Truyền thần xưa có Lý Tư Huấn)
Vấn tự kim vô Dương Tử Vân (Hỏi chữ nay không Dương Tử Vân)
Những câu đối này được chép trong “Yên thiều bút lục” của Nguyễn Tử Giản sách viết tay của thư viện khoa học Trung ương, số A.852 tờ 18a-b; Cứ liệu trên đã được các học giả Tảo Trang và Hoa Bằng đưa ra trên tạp chí văn học số 2-Hà Nội năm 1972, trang 61 và 64.
Giai thoại đối đáp của thầy Võ Tử Văn và các học trò
Triều Tự Đức có một vị thầy nổi danh cả một vùng đó là Ông Võ Tử Văn người làng Nại Cửu, phủ Triệu Phong (nay là huyện Triệu Phong) tỉnh Quảng Trị. Ông học rất giỏi nhưng chỉ có số làm thầy nhưng không có số làm quan. Học trò ông rất đông, trong số đó có ba môn sinh xuất sắc :Lê Cảnh Trinh, Lê Bá Thoại và Ông đốc Tham Triều. Một hôm, thầy Văn bảo học trò làm câu đối cho ông xem tướng, đề tài nói về cái đình làng Nại Cửu, đình làm trong một khu đất đẹp , rộng rải, thoáng mát ở đầu làng, trước có một cái hồ, sau có một cái hồ và chung quanh có tường bao bọc. Sau một hồi suy nghĩ ông Lê Cảnh Trinh đọc trước:
Thành như trung, Hình như ngoại
Giựt hồ hậu, Dẩn hồ tiền

Văn phong thanh thoát, ý văn oai vệ thầy Văn khen hay đoán rằng sau nầy Ông Trinh sẽ làm quan to, vinh hiển làng nước, bà con được nhờ.
Kế đến ông Đốc Tham Triều đọc đôi câu đối như sau::
Khí khái bình sinh thiên địa
Sương thê hạ vũ xuân thu

Lời văn cao ngạo, dũng mãnh nhưng buồn. Ông thầy Văn đoán rằng ông đốc về sau cũng đổ đạt làm quan to nhưng kết cục buồn. Câu đối của Ông Lê Bá Thoại cũng rất hay (hiện đã thất truyền), về sau đổ đạt rất cao.
Thật vậy, khoa thi năm đó ông Lê Bá Thoại đổ Tiến Sĩ bổ nhiệm Tham Tri, Ông Lê Cảnh Trinh đổ phó bảng bổ nhiệm thượng thơ đầu triều.Ông Đốc Tham Triều cũng trúng khoa và được bổ nhậm đốc học. Trong khi làm đốc học, ông đốc Tham Triều thấy thói ngang ngược của bọn thưc dân ông ngăn không được, buồn tình ông từ quan về Tham Triều cất chòi tranh để ở ,làm thơ ngâm vịnh, vui chơi quên ngày tháng. Không lâu sau trong một đêm tối trời căn chòi tranh của ông Đốc Tham Triều bốc cháy và hỏa thiêu ông luôn, người ta nói rằng ông Đốc đã tự vẫn. Thế là ứng với câu đối buồn:…"Sương thê hạ vũ xuân thu".
Ông Trinh đổ thấp hơn ông Thoại nhưng lại làm quan lớn hơn, điều gây ra sự hục hặc, đau đầu cho ông tiến sĩ. Một dạo nọ, quan tri phủ Triệu Phong người quê Nghệ An về trấn nhậm, ông đổ tiến sĩ nên coi thường quan Thượng chỉ là phó bảng. Không lâu, quan tri phủ vì một tội gì đó mà bị cách chức và bị đục bia tiến sĩ, không biết có phải do quan thượng hay không? Họ Lê Bá có làm mới nhà thờ, Ông quan Thượng có làm hai câu đối rất nổi tiếng, tặng họ ngoại, được treo vào hai cột ở tiền điện:
Nội ngoại thù nguyên giai vọng tộc
Thi thơ dư khánh hữu văn tôn

Hai câu đối ngoài việc ca tụng uy danh họ hàng, còn đoán rằng trong họ sau nầy có con cháu đổ đạt cao và làm quan to.
Ông quan Tham Tri chẳng chịu thua, ông làm hai câu đối cũng tài hoa và phải treo ở cửa Tam quan:

Giang hữu thu lai lưu thủy diễu
Đương triều vũ thế viễn sơn thanh

Tuy có phần hục hặc nhau lúc sanh tiền là cả hai nhân tài sinh ra cùng một nơi và cùng thời , nhưng cả hai người đều tương kính. Bằng chứng là khi quan thượng qua đời, quan tham đi hai câu đối thể hiện sự kính trọng và tình cảm thân thương của mình;

Dư thế tâm bình tố liễu công danh hoàn thế cuộc
Đồng hương nghị thuyết tưởng vô ngôn mạo xúc tâm hoài
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin cũ hơn

 

GIới thiệu

BÀI 2: Tài trợ, đóng góp cho hoạt động của Hội đồng Dòng họ Nhữ Việt Nam

 > BÀI 1: TRANG TT  ĐT HỌ NHỮ VIỆT NAM      Để tạo điều kiện cho các hoạt động của Hội đồng dòng họ Nhữ Việt Nam trong các năm 2010, 2011, quí I năm 2012. Hội đồng dòng họ Nhữ Việt Nam đã nhận được sự tài trợ, đóng góp của các cá nhân,...

Đăng Nhập

Bài viết mới nhất

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HỌ NHỮ VIỆT NAM
www.honhuvietnam.com      E-mail: honhuvietnam@gmail.com

Hotline:                                Fax : +84 4 3 863 1091