03:29 EDT Thứ bảy, 22/09/2018

Danh mục bài viết

Gủi bài viết

Các bài viết

Trang nhất » Bài viết » Hồn Việt

BA THỂ LOẠI: VĂN BIA, THẦN TÍCH, SẮC PHONG ĐỐI VỚI VIỆC NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG (BÀI CUỐI): SẮC PHONG

Thứ tư - 02/05/2018 07:38

Sắc phong là sắc chỉ của triều đình ban phong cho Thần, phong chức tước cho quan lại. Có thể hiểu Sắc phong trước tiên là một văn bản hành chính mang tính chính thống quan trọng của các triều đại phong kiến xưa, nó nằm trong hệ thống văn bản Hán Nôm hiện còn ở các làng xã Việt Nam.

Sắc phong là sắc chỉ của triều đình ban phong cho Thần, phong chức tước cho quan lại. Có thể hiểu Sắc phong trước tiên là một văn bản hành chính mang tính chính thống quan trọng của các triều đại phong kiến xưa, nó nằm trong hệ thống văn bản Hán Nôm hiện còn ở các làng xã Việt Nam. Chủ thể đứng đầu đại diện là nhà vua, phong ban về sự bang giao của nước lớn và các nước chư hầu, hoặc ban thưởng, khen ngợi cho những nhân vật có những đóng góp cho làng xã, đất nước. Những nhân vật được ban tặng sắc phong có thể là nhân thần (những người khi còn sống, có công trạng khi mất được làng xã thờ tự, suy tôn như thần) hoặc thiên thần, nhiên thần được làng xã thờ cúng. Sắc phong truyền tải những thông tin tư liệu trung thực về tên, tuổi, địa danh, đôi khi có ghi cả chức tước, công lao của nhân vật. Hình thức đầu tiên của sắc phong được viết trên giấy Long ám (giấy rồng), đôi khi viết trên lụa, được ghi rõ ngày tháng, niên đại ban sắc, đóng ấn triện (sắc mệnh chi bảo) của nhà vua để tỏ rõ dấu ấn uy quyền của các vị vua cai trị. Giấy ban của sắc phong được chia làm ba hạng; chẳng hạn giấy phong cho bách quan có 3 hạng thì hạng Nhất, xung quanh khung có vẽ 8 con rồng nhỏ, mặt trước vẽ một con rồng lớn, ẩn trong mây, gọi là Long ám, mặt sau vẽ hình Tứ linh (Long-Ly-Quy-Phụng); hạng Nhì, xung quanh khung vẽ mây hoặc họa tiết hồi văn, mặt trước vẽ một con rồng, mặt sau vẽ Nhị linh (hai con vật trong Tứ linh); hạng Ba, xung quanh in triện gấm, mặt trước vẽ một con rồng ở giữa và bốn góc in hình Ngũ tinh (Năm ngôi sao), mặt sau vẽ bầu rượu túi thơ. Giấy phong cho bách thần cũng có 3 hạng, trong đó, Thượng đẳng thần xung quanh in triện hoa chanh, phía trước vẽ một con rồng, ở giữa in hình Ngũ tinh, bốn góc in hình Thất tinh, mặt sau vẽ hình Tứ linh; Trung đẳng thần mặt trước giống như sắc Thượng đẳng thần, mặt sau vẽ Lá và Bầu rượu, giữa vẽ hai chữ Thọ liền nhau, gọi là song thọ; hạ đẳng thần mặt trước giống như hai hạng trên, mặt sau không vẽ. Nội dung văn tự viết trên sắc cũng được phân làm hai loại. Loại thứ nhất: Thời nhà Lê chỉ ghi danh hiệu của thần được ban tặng, cộng thêm các mỹ tự, sau đó ca tụng về công đức của thần rồi được gia ban mỹ tự. Địa danh của nơi được ban sắc không thể hiện rõ trên mặt trước sắc chính mà được ghi ở mặt sau phía bên trên tay trái của sắc. Đối với sắc phong thời nhà Nguyễn, nội dung và cách hành văn khác hoàn toàn với giai đoạn triều Lê. Trong sắc phong triều Nguyễn, ngôn từ rất giản lược chỉ với danh hiệu của thần. Nội dung còn thể hiện rõ việc sắc chỉ cho địa phương phụng thờ, gia ban mỹ tự cho thần và việc tế tự theo qui định điển lễ xưa. Ở Thanh Hóa hiện nay có một số lượng lớn sắc phong hiện được lưu giữ tại các đình, đền, miếu phủ, các nhà thờ dòng họ. Tất cả đều được bảo quản, cất giữ cẩn thận. Sắc phong cổ nhất hiện còn là Đạo sắc của vua Lê Thánh Tông niên hiệu Hồng Đức (1460 - 1497) ban cho con cháu dòng tộc họ Lê Lai ở Hoằng Hải, Hoằng Hóa. Sau đó, đến giai đoạn triều Lê trung hưng, niên hiệu Dương Đức (1672-1674), Chính Hòa (1680 - 1705) mới thấy xuất hiện nhiều sắc. Sắc phong giai đoạn triều Lê trung hưng xuất hiện nhiều nhất vào niên hiệu Cảnh Hưng thứ 44(1783) đời vua Lê Hiển Tông, đôi khi có những nhân vật một ngày được ban 02 đạo sắc. Triều Nguyễn số lượng sắc phong khá nhiều, nhiều nhất là sắc ban vào niên hiệu Khải Định thứ 9 (1924). Ở nhiều địa phương có những đạo sắc phong ban cho ba bốn vị thần được dân làng thờ cúng, như ở Hoằng Lộc, Hoằng Hóa, đạo sắc phong niên hiệu Thành Thái thứ 2 (1890) ban phong 4 nhân vật là: Khang gia Huệ cát Tĩnh trấn Tú ngưng, Quan sơn Hiển khánh. Hiển diệu Diên hi Công chính, Thuần chính Thiên quan Chiêu ứng. Trang thành Trực lượng Quảng phù Đôn ngưng, Phụng tuyên Hoằng tín. Bác lợi Phong tài Dụ phúc Thuần chính Thiên quan Thị phù hựu được dân làng thờ cúng. Ở Đồng Lạc xã Hoằng Hải đạo sắc phong ban niên hiệu Khải Định thứ 9 (1924) ghi ban cho giáp Lê phụng thờ 4 nhân vật trong một dòng tộc: Thái úy Trịnh quốc công, Thái úy Trung quốc công, Thái úy Phúc quốc công, Tán trị Cẩm y vệ. Có những nhân vật được ban tặng rất nhiều sắc, thể hiện rất nhiều đời vua như thần Đông hải Đại vương ở Bái Nãi xã Nga Hải, huyện Nga Sơn, Già Nuôi ở Thanh Nga, xã Hoằng Trinh... Việc này không lấy gì bất thường tùy theo sự bảo quản, giữ gìn của mỗi làng. Như vậy, Văn bia, Thần tích, Thần sắc là những tài liệu Hán Nôm ghi chép mọi mặt đời sống kinh tế xã hội thời kỳ nhà nước Phong kiến. Đó là những di sản thành văn quý giá, vô cùng phong phú và xác thực. Việc sưu tập và nghiên cứu tư liệu này là hết sức cần thiết, qua đó góp phần lý giải và rút ra những kết luận về nhiều khía cạnh có liên quan tới lịch sử, văn hóa truyền thống, phong tục tập quán ở Thanh Hóa nói riêng, của người Việt nói chung. Đồng thời, cung cấp kiến thức, những kinh nghiệm trong việc quản lý và thực hành tín ngưỡng thờ cúng Thành hoàng ở làng xã ngày nay, cũng như việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc ở Thanh Hóa, một địa phương có kho tàng di sản văn hóa cổ truyền to lớn, đặc sắc hàng đầu trong phạm vi cả nước.

Chủ thể đứng đầu đại diện là nhà vua, phong ban về sự bang giao của nước lớn và các nước chư hầu, hoặc ban thưởng, khen ngợi cho những nhân vật có những đóng góp cho làng xã, đất nước. Những nhân vật được ban tặng sắc phong có thể là nhân thần (những người khi còn sống, có công trạng khi mất được làng xã thờ tự, suy tôn như thần) hoặc thiên thần, nhiên thần được làng xã thờ cúng.

Sắc phong truyền tải những thông tin tư liệu trung thực về tên, tuổi, địa danh, đôi khi có ghi cả chức tước, công lao của nhân vật. Hình thức đầu tiên của sắc phong được viết trên giấy Long ám (giấy rồng), đôi khi viết trên lụa, được ghi rõ ngày tháng, niên đại ban sắc, đóng ấn triện (sắc mệnh chi bảo) của nhà vua để tỏ rõ dấu ấn uy quyền của các vị vua cai trị.

Giấy ban của sắc phong được chia làm ba hạng; chẳng hạn giấy phong cho bách quan có 3 hạng thì hạng Nhất, xung quanh khung có vẽ 8 con rồng nhỏ, mặt trước vẽ một con rồng lớn, ẩn trong mây, gọi là Long ám, mặt sau vẽ hình Tứ linh (Long-Ly-Quy-Phụng); hạng Nhì, xung quanh khung vẽ mây hoặc họa tiết hồi văn, mặt trước vẽ một con rồng, mặt sau vẽ Nhị linh (hai con vật trong Tứ linh); hạng Ba, xung quanh in triện gấm, mặt trước vẽ một con rồng ở giữa và bốn góc in hình Ngũ tinh (Năm ngôi sao), mặt sau vẽ bầu rượu túi thơ.

Giấy phong cho bách thần cũng có 3 hạng, trong đó, Thượng đẳng thần xung quanh in triện hoa chanh, phía trước vẽ một con rồng, ở giữa in hình Ngũ tinh, bốn góc in hình Thất tinh, mặt sau vẽ hình Tứ linh; Trung đẳng thần mặt trước giống như sắc Thượng đẳng thần, mặt sau vẽ Lá và Bầu rượu, giữa vẽ hai chữ Thọ liền nhau, gọi là song thọ; hạ đẳng thần mặt trước giống như hai hạng trên, mặt sau không vẽ.

Nội dung văn tự viết trên sắc cũng được phân làm hai loại. Loại thứ nhất: Thời nhà Lê chỉ ghi danh hiệu của thần được ban tặng, cộng thêm các mỹ tự, sau đó ca tụng về công đức của thần rồi được gia ban mỹ tự. Địa danh của nơi được ban sắc không thể hiện rõ trên mặt trước sắc chính mà được ghi ở mặt sau phía bên trên tay trái của sắc.

Đối với sắc phong thời nhà Nguyễn, nội dung và cách hành văn khác hoàn toàn với giai đoạn triều Lê. Trong sắc phong triều Nguyễn, ngôn từ rất giản lược chỉ với danh hiệu của thần. Nội dung còn thể hiện rõ việc sắc chỉ cho địa phương phụng thờ, gia ban mỹ tự cho thần và việc tế tự theo qui định điển lễ xưa.

Ở Thanh Hóa hiện nay có một số lượng lớn sắc phong hiện được lưu giữ tại các đình, đền, miếu phủ, các nhà thờ dòng họ. Tất cả đều được bảo quản, cất giữ cẩn thận. Sắc phong cổ nhất hiện còn là Đạo sắc của vua Lê Thánh Tông niên hiệu Hồng Đức (1460 – 1497) ban cho con cháu dòng tộc họ Lê Lai ở Hoằng Hải, Hoằng Hóa.

Sau đó, đến giai đoạn triều Lê trung hưng, niên hiệu Dương Đức (1672-1674), Chính Hòa (1680 – 1705) mới thấy xuất hiện nhiều sắc. Sắc phong giai đoạn triều Lê trung hưng xuất hiện nhiều nhất vào niên hiệu Cảnh Hưng thứ 44(1783) đời vua Lê Hiển Tông, đôi khi có những nhân vật một ngày được ban 02 đạo sắc. Triều Nguyễn số lượng sắc phong khá nhiều, nhiều nhất là sắc ban vào niên hiệu Khải Định thứ 9 (1924).

Ở nhiều địa phương có những đạo sắc phong ban cho ba bốn vị thần được dân làng thờ cúng, như ở Hoằng Lộc, Hoằng Hóa, đạo sắc phong niên hiệu Thành Thái thứ 2 (1890) ban phong 4 nhân vật là: Khang gia Huệ cát Tĩnh trấn Tú ngưng, Quan sơn Hiển khánh. Hiển diệu Diên hi Công chính, Thuần chính Thiên quan Chiêu ứng. Trang thành Trực lượng Quảng phù Đôn ngưng, Phụng tuyên Hoằng tín. Bác lợi Phong tài Dụ phúc Thuần chính Thiên quan Thị phù hựu được dân làng thờ cúng.

Ở Đồng Lạc xã Hoằng Hải đạo sắc phong ban niên hiệu Khải Định thứ 9 (1924) ghi ban cho giáp Lê phụng thờ 4 nhân vật trong một dòng tộc: Thái úy Trịnh quốc công, Thái úy Trung quốc công, Thái úy Phúc quốc công, Tán trị Cẩm y vệ. Có những nhân vật được ban tặng rất nhiều sắc, thể hiện rất nhiều đời vua như thần Đông hải Đại vương ở Bái Nãi xã Nga Hải, huyện Nga Sơn, Già Nuôi ở Thanh Nga, xã Hoằng Trinh… Việc này không lấy gì bất thường tùy theo sự bảo quản, giữ gìn của mỗi làng.

Như vậy, Văn bia, Thần tích, Thần sắc là những tài liệu Hán Nôm ghi chép mọi mặt đời sống kinh tế xã hội thời kỳ nhà nước Phong kiến. Đó là những di sản thành văn quý giá, vô cùng phong phú và xác thực. Việc sưu tập và nghiên cứu tư liệu này là hết sức cần thiết, qua đó góp phần lý giải và rút ra những kết luận về nhiều khía cạnh có liên quan tới lịch sử, văn hóa truyền thống, phong tục tập quán ở Thanh Hóa nói riêng, của người Việt nói chung.

Đồng thời, cung cấp kiến thức, những kinh nghiệm trong việc quản lý và thực hành tín ngưỡng thờ cúng Thành hoàng ở làng xã ngày nay, cũng như việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc ở Thanh Hóa, một địa phương có kho tàng di sản văn hóa cổ truyền to lớn, đặc sắc hàng đầu trong phạm vi cả nước.
Tác giả: Nguyễn Văn Hải (mientrung.vanhien.vn)

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

GIới thiệu

BÀI 1: Trang thông tin điện tử HỌ NHỮ VIỆT NAM - Website www.honhuvietnam.com

>BÀI 2: TÀI TRỢ, ĐÓNG GÓP CHO HOẠT ĐỘNG CUẢ HỘI ĐỒNG DÒNG HỌ   Hà Nội, Ngày 01/03/2012 Kính chào các bạn đọc ! Trang Thông tin điện tử Họ Nhữ Việt Nam www.honhuvietnam.com, (.org) do Hội Đồng dòng họ Nhữ Việt Nam quản trị và điều hành. Việc xây dựng và phát triển...

Đăng Nhập

Bài viết mới nhất

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HỌ NHỮ VIỆT NAM
www.honhuvietnam.com      E-mail: honhuvietnam@gmail.com

Hotline:                                Fax : +84 4 3 863 1091